THUYẾT TRÌNH SÁCH
Biệt Danh Xương Rồng

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 19h:41' 15-03-2024
Dung lượng: 464.4 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 19h:41' 15-03-2024
Dung lượng: 464.4 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Biệt Danh Xương Rồng
Nguyễn Thu Phương
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
Nỗi buồn có tên
Nào ai biết được chữ ngờ
Biệt danh Xương Rồng
Những chuyện bí mật
Giải mã giấc mơ
Hoa và trái
Đánh cắp niềm tin
Bí mật cuối cùng
Nỗi buồn có tên
Năm đó tôi mười bảy tuổi. Cái tuổi thường buồn những nỗi buồn không tên, rất vu vơ, ngờ
nghệch và vớ vẩn. Buồn vì nắng, vì mưa, vì gió, vì mây… Buồn theo kiểu mà một nhà thơ đã
“bắt mạch” rất hay: “Hôm nay trời nhẹ lên cao, tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Nhưng trong
tình huống này thì khác, nỗi buồn của tôi tượng hình tượng dạng, buồn có tuổi có tên hẳn hòi:
buồn – vì – thi – rớt. Chính xác và cụ thể hơn: sau khi xong lớp 12, tôi rớt ạch khỏi cuộc thi
tuyển sinh thường niên vào trường Đại học Kinh tế, rớt không còn đường để cứu vãn.
Còn nhớ những năm cuối thập niên 80 đó, mỗi thí sinh tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ
được đăng ký thi vào một trường Đại học duy nhất, và nếu không đậu được hệ A chính thức thì
chỉ còn hệ B đóng tiền (điểm thi cũng phải suýt soát, chỉ được thiếu tối đa 1,5 điểm), và hệ C
là… dự bị. Trong khi tôi lại thiếu tới 2,5 điểm so với mức chuẩn, nên coi như đành “bó tay”. Bởi
vậy nên tôi buồn, một trận buồn kéo dài qua cả tháng kể từ khi nhận được tờ giấy báo tin “sét
đánh” gửi về tận nhà (mặc dù trước đó “sét” đã “đánh” một lần rồi - lúc tôi đi xem bảng báo kết
quả thi dán nơi sân trường Kinh tế, có tên tôi in kèm số báo danh, số điểm từng môn và một
chữ “R” ở cột sau cuối, nhưng ngay cả trong lần hai tôi vẫn còn bàng hoàng, chưa muốn tin vào
sự thật đau lòng đó).
Hẳn là đọc tới đây bạn sẽ thấy thoáng chút ngạc nhiên, và bạn tự hỏi, “Ủa sao kỳ vậy, chẳng
lẽ “đằng ấy” thi sớm một năm?”. Rằng – thì – là bạn đã đúng, tôi trở thành “sinh viên” lớp một
từ khi mới được năm tuổi. Thuở tôi còn nhỏ xíu, ba mẹ tôi đã vô cùng hãnh diện. Bất cứ gặp ai,
hai người cũng hớn hở khoe rằng có đứa con thần đồng. “Nó mới ba tuổi thôi mà đã biết đọc
chữ vanh vách” (sự thật đúng là tôi có khả năng ấy: những bảng hiệu to trên đường hay những
tựa báo, chuyện “đọc chữ vanh vách” đối với tôi chỉ là chuyện nhỏ). Bởi vậy ba tôi đã quyết
định sửa khai sinh để xin cho tôi đi học sớm. “Danh chánh ngôn thuận” thì sáu, nhưng tuổi thật
tôi chỉ mới vừa lên năm. Nói nào ngay, hồi cấp một, cấp hai tôi học rất giỏi, cũng đáng làm mát
mặt mẹ cha. Dần lớn lên, tới tận lớp chín tôi vẫn còn học giỏi. Năm nào tôi cũng được chọn vào
lớp tuyển. Mấy lần đi thi học sinh chuyên toán, chuyên văn cấp Quận, rồi cấp thành phố. Dựa
trên đà đó, ba mẹ tôi đinh ninh việc vô Đại học của tôi chỉ còn là chuyện của thời gian. Đến hạn
thì đi thi, và đến thi thì phải đậu. Chuyện trong gang tấc! Chẳng ai nghĩ một thí sinh có nền
tảng học tập “cứng cựa” và một bảng thành tích đáng nể như tôi lại có thể thi rớt. Mà là rớt đau
thương, thê thảm, tan nát.
Phải “moi móc” lại chuyện ngày xửa ngày xưa kể cho bạn nghe, cũng chỉ vì mong bạn hiểu
rằng tôi đã khổ tâm đến mức nào. Nếu người khác buồn vì thi rớt một phần thì tôi đã phải
buồn hơn gấp mấy. Cái chính là do tôi đã làm ba mẹ quá thất vọng, đặc biệt là mẹ - người đã
gởi gắm vào tôi giấc mơ ngọt ngào nhất của thời hoa niên mà mẹ đã không thể nào thực hiện.
Thời của mẹ - mọi thứ đều thiếu thốn, cực khổ, khó khăn, vất vả trăm bề, chẳng được như tôi
bây giờ, nên mẹ đành phải “ra đời” đi làm sớm, không thể học tiếp lên cao sau khi tốt nghiệp
xong phổ thông. Chính vì vậy mẹ đã vô cùng mong mỏi tôi thi đậu vào Đại học Kinh tế, để
“đeo” cho bằng được một ngành học nào đó có liên quan tới công việc “làm ăn, kinh doanh”.
Mẹ muốn cho đời tôi sẽ được sung sướng, an nhàn, thảnh thơi, giàu có… Không day dứt, lao
tâm khổ tứ vì cơm áo, gạo tiền, mắm muối như đời mẹ.
Tôi vẫn còn nhớ như in trong hồ sơ đăng ký dự thi, phần nguyện vọng ngành học tôi đã đánh
dấu “X” chọn ngay “Kinh tế Vật tư”, dù cũng không hiểu mấy về công việc này. Bạn bè tôi, hùa
theo câu “văn vần” thời thượng - lúc đó đang lan truyền khắp các cửa miệng về mốt chọn
ngành học - đã thi nhau “nhất Y, nhì Dược, tạm được Bách khoa”. Chỉ có những đứa rất “thực
tế” trong định hướng - tương tự như tôi - mới thẳng đường theo “Kinh tế” mà đi.
Bây giờ ngồi nhớ lại, kể cho bạn nghe thì tôi đã bình tĩnh lắm. Chứ dạo ấy, sự thật là tôi chỉ
còn muốn chết! Vốn là một cô bé đa cảm, đa sầu, hay mơ mộng, ưa mê đọc những trang tiểu
thuyết diễm tình đẫm lệ, khi buồn đến tan nát cả cõi lòng, buồn tới không gì có thể buồn hơn,
tôi chỉ còn cách lặng thầm mơ cho mình một cú… tự tử – sao cho day dứt và ngọt ngào nhất.
Chết đi trong chiếc áo đầm vải mềm và trắng như tuyết chẳng hạn, với thân xác phủ đầy hồng
hoa – thứ hoa hồng vàng lạnh lùng kiêu sa tôi vô cùng yêu. Đó là kiểu chết đẹp tuyệt vời mà các
nhân vật nữ thơ dại và trẻ trung thường chọn mỗi khi có sự gì bất đắc ý, hoặc bất đắc chí (ấy là
tôi đọc được từ những cuốn sách). Cũng không hiểu họ mua ở đâu thứ thuốc độc êm dịu để
uống vô xong, thác xuống tuyền đài rồi mà nét mặt và thân thể vẫn còn xinh đẹp và tươi
nguyên, giống y như đang nằm ngủ. Thậm chí đôi môi hồng son vẫn còn hé nở một nụ cười
ngất ngây. Tẩn mẩn trộm nghĩ, lẽ ra “tử nhân” phải co giật đùng đùng, quơ quào và sùi bọt mép
tứa ra hai bên cằm, trông kinh khủng và ghê gớm lắm - chứ không thể ngọt ngào và tươi tắn
giống như trong sách tả vậy được. Nhưng thôi, văn học chấp nhận mọi sự tưởng tượng, và
không thể cấm nhà văn không được hư cấu.
Lẽ thường, không cô gái mười bảy tuổi nào muốn từ bỏ cõi đời trong một hình dung còng
queo vật vã, vừa xấu xí lại vừa ám ảnh, và tôi cũng không ngoại lệ khỏi “nguyên tắc” đó. Chưa
nói, tôi lại rất nhát đòn và sợ đau. Làm sao để chết không đau? Nhảy từ trên lầu cao? Lao đầu
vào xe? Dùng thòng lọng? Hay châm mồi lửa tự thiêu? Chỉ nghe thôi đã thấy dễ sợ.
Vậy rồi có một hôm, tôi đạp xe lọc cọc ra cầu An Lộc, quyết định chọn giải pháp nhảy xuống
sông để chấm dứt tất cả muộn phiền sầu não (tôi không biết bơi). Trước cái ngày mà tôi đưa
ra quyết định tày đình bi thảm đó, một trận rầy la khá “trời long đất lở” của mẹ đã diễn ra
“thông tầm” - kéo suốt từ chiều tới tối. Mẹ dành cho tôi kha khá những lời thậm tệ, nặng nề đủ để bất cứ cô gái đa cảm, đa sầu và hay khóc nào cũng có thể đau, tức và buồn đến tự cắn lưỡi
mình mà “ra đi” cho nhẹ cõi lòng tan nát. Tôi biết mẹ rất giận, và biết tính mẹ hay nổi nóng
những khi bực bội quá mức, rồi hễ nóng thì sẵn sàng tuôn ra vô vàn lời chỉ toàn nồng cay, đắng
chát (đó không phải là chuyện quá mới, và tôi đã từng chịu trận rất nhiều lần – cho đủ mọi lý
do). Nhưng lần này thì “quá tải”, trận rầy la đã kéo thần kinh tôi căng lên tới mức đỉnh điểm,
tôi đã không thể chịu đựng nổi khi mẹ gọi tôi là “đồ con hoang đáng chết”! Đồng ý với mẹ rằng
tôi sai, tôi làm ba mẹ buồn, tôi là nỗi thất vọng lớn lao, là tấm gương đen xì để em trai tôi nhìn
vô cười chê, là đồ khốn kiếp văn dốt võ nát, thi đâu hỏng đó, vân vân và vân vân… Nhưng tôi
không phải “con hoang”. Tuyệt đối không. Cho dù giận đến đâu thì mẹ cũng không có quyền sỉ
mắng tôi bằng cách “vu oan”, tuyên bố về tôi không đúng. Thi rớt thì tôi vẫn là con của ba mẹ
chứ!
Vậy là tôi đã quyết định xong sau một đêm thức trắng, khóc âm thầm tới nỗi mắt đỏ mọng
lên và sưng hum húp. Ngay sáng hôm sau, lúc tám giờ hai mươi tư, khi ba mẹ đều đã đi làm
vắng, tôi lẳng lặng khóa cửa, dắt xe đạp ra khỏi nhà, bảng lảng bơ lơ đạp xe tới cầu An Lộc.
*
Cầu An Lộc ở cách nhà tôi khoảng hai mươi bảy phút đạp xe. Đó là cây cầu bê-tông cỡ vừa
bắc ngang một nhánh của sông Sài Gòn, nối giữa quận Gò Vấp và Hóc Môn (bây giờ là quận 12).
Thời ấy, mỗi buổi chiều, rất nhiều đôi nam thanh nữ tú thích chở nhau lên cầu rồi dừng xe, tấp
vô hai bên lề để đứng hóng mát, ngắm hoàng hôn đổ bóng chiều tà. Còn bọn nhóc choai choai
thì khoái leo lên thành cầu làm bằng xi-măng, hai tay giang rộng, miệng khoái chí cười vang,
sau đó cắm đầu nhảy ùm xuống sông. Chúng quẫy nước đùng đùng - nhóm này thì tắm, nhóm
kia bơi đua, nhóm khác vung vẩy chân tay, tạt sóng lên cao thành những cơn mưa, những “vòi
rồng” nổi ngọn, những đám mây cầu vồng đủ màu lung linh, lấp lánh. Sinh ra ở đây nên chúng
bơi lội như rái, chưa bao giờ biết sợ “ông Hà Bá”, hay “ông thần sông”…
Nhưng đó là chuyện của những buổi tà dương, mỗi khi mặt trời xế bóng. Còn ban ngày - như
thời gian của tôi lúc này - thì cầu chỉ có người và xe đi ngang qua hối hả, chẳng có ai bận tâm
dừng lại. Tôi đứng trên cầu nhìn xuống mặt sông, thấy nắng vàng ngọt như mật trải trên những
mớ lục bình ù lì trôi chậm rãi, sông chảy xuôi lăn tăn vảy cá, dòng nước mịn màng tựa một khối
rau câu khổng lồ, mềm và mát, không ngừng chuyển động. Phía xa cao, mặt trời chói chang
nhòa thành khối lửa vàng cam, trời trong xanh và mây đục như cháo đặc đổ thành từng vũng.
Hai bên bờ, dừa nước, dừa cạn và những lùm bụi gì đó không rõ tên xanh um, mướt mát. Có thể
trong đôi mắt của một kẻ đang day dứt buồn, tất cả sự việc đều kém tươi đi hơn thực tế rất
nhiều. Vậy mà tôi không thể không thốt lên rằng cảnh vật sáng nay sao đẹp quá. Không u ám,
âu sầu và nặng trĩu như nội dung của bức “thư tuyệt mạng” mà tôi đã để lại trên bàn xa-lông ở
nhà trước khi dắt xe đạp ra đi.
Thư viết: “Ba mẹ kính yêu. Con cảm thấy chán chường, tối tăm, mệt mỏi và tràn đầy tuyệt
vọng. Đến nỗi không còn thiết tha muốn biết sau tuổi mười bảy tươi hồng của con sẽ còn tiếp
những niềm vui, nỗi khổ đau, điều hạnh phúc và sự sung sướng nào...… Gánh nặng mà con đã gây
ra cho bản thân, cho ba mẹ và cho gia đình, giờ đây con cảm nhận đã không còn mang vác nổi. Vì
vậy con mới phải chọn lấy một giải pháp rất “tiêu cực” là tìm đến với “sự chấm dứt”. Kính mong
ba mẹ sẽ tha thứ và thông cảm cho con. Đứa con sai lầm và yếu đuối. Mi”.
Bây giờ tôi đứng đây, hít căng lồng ngực thứ không khí nồng nàn, mê đắm và cảm xúc đầy
tràn của con người quá ư nhỏ bé trước một dòng sông. Kế hoạch của tôi cũng đơn giản thôi, chỉ
sau đó vài phút, tôi sẽ leo lên thành cầu, cũng dang rộng đôi tay, cũng mở rộng miệng toe toét
cười và cũng cắm đầu nhảy ùm xuống – giống y như lũ trẻ choai choai vẫn hay thường làm. Chỉ
khác là tôi không biết bơi. Tôi rất sợ các “ông thần sông”, hay “ông Hà Bá”. Tôi cũng sẽ vung
vẩy chân tay, tạt sóng lên cao thành những cơn mưa, những “vòi rồng”, những đám mây cầu
vồng đủ màu lung linh, lấp lánh. Nhưng là cách vung vẩy và tạt, và quẫy, và chơi vơi của một
người đang bị đuối sức. Rồi nước sẽ bao bọc lấy tôi, sẽ ùa vào miệng, vào mắt, vào mũi tôi, sẽ
kéo tôi chìm xuống, ôm siết tôi vào lòng. Chẳng biết rồi tôi sẽ nằm yên tại đáy sông nơi đó hay
bỗng trôi dạt đi về phương trời nào xa lắc. Rồi ba mẹ có tìm ra được xác tôi không? Rồi… Mà
thôi, một khi người ta mới mười bảy tuổi, người ta chẳng nên nghĩ quá nhiều, quá xa, cho dù là
nghĩ về chuyện “tương lai”, chuyện “hậu sự” ở ngay sau cái chết của mình.
Chẳng có ai đi ngang qua cầu bận tâm nhìn đến một con nhỏ đang chán đời là tôi. Thảng
hoặc nếu có, thì khoảng vài giây ít ỏi của một cái cau mày hay liếc mắt bàng quan không đủ để
lôi kéo người ta thắng xe lại, hỏi han tôi dù chỉ là một tí chút. Nhưng dù có được ai hỏi thì tôi
đây cũng không thiết. Tôi đâu phải muốn ra đây để mong cầu một sự chú ý, một lời can gián,
năn nỉ ỉ ôi, một thái độ ân cần phân tích thiệt hơn của ai đó không quen - tôi không “dọa chết”
mà là muốn chết thật. Tốt nhất xin đừng có ai làm phiền. Vào giây phút gần như là cuối cùng,
tôi bỗng quay lại, nhìn âu yếm chiếc xe đạp thân yêu - đã gắn bó với tôi suốt ba năm trung học
phổ thông, buồn vui có đủ. Nó đang dựng hiền lành ở gần đó, vì chân chống hơi choãi nên tôi
đã cho tựa nhẹ vào lan can của cầu.
Chiếc xe đạp “đầm” khá cũ, là tài sản được mẹ “chuyển giao” lúc tôi được tuyển thẳng vào
cấp ba theo qui chế xét tuyển ưu tiên. Vì khá cũ nên nó lắm tật, nhiều bệnh: nào hay dễ “tuột
con chó”, hay sút sên, hay “cắn” lai quần, hay cạ cạc-te, nào hay lủng yên để thấm nước mưa
làm tôi ướt quần mỗi khi ngồi lên, hay bể ruột vì cứ thích cán đinh, hay lỏng tay lái… Nhưng bù
lại, nó có ưu điểm là vừa tầm vóc tôi, đạp nhẹ, chạy êm và nhanh. Dù ưu hay khuyết gì nó cũng
đã giúp cho tôi đi đi về về ngày hai bận, trong suốt chín tháng nhân ba năm - xấp xỉ bằng tám
trăm mười ngày vừa qua. Nó không có lỗi gì trong chuyện chở tôi đi thi Đại học bị rớt, càng
chẳng có lỗi gì vì đã nhiệt tình chở tôi tới đây tự tử… Bây giờ, nếu tôi nhảy xuống sông, chiếc
xe sẽ buộc phải ở lại, và chờ ở đó cho tới khi có một kẻ trộm ơ hờ bỗng phát hiện ra, dắt đi. Kẻ
trộm nào đó không dưng vớ được vận may, “trúng số” nguyên chiếc xe đạp dựng sẵn trên lề
cầu mà không cần biết của ai(?). Vậy nhưng, đâu chỉ là chuyện “của đau con xót”, mà còn là
những kỷ niệm với một món đồ đã từng gắn bó cùng tôi qua rất nhiều năm tháng.
Ùa về tràn ngập cả tâm trí tôi là ký ức của thuở lên bảy, lên tám, khi tôi mới lần đầu tập đạp
xe. Lúc đó, do nhỏ con, chân còn ngắn không thể thượng lên yên nên tôi đã chọn cách ngồi gá
nghiêng trên sườn. Nhưng sườn xe quá thấp khiến chân tôi lại thành ra dư, đạp xe khuỳnh
khoàng đầu gối giống như mấy con khỉ đang làm xiếc với dáng ngồi thậm tệ xấu, nhưng tôi
mặc kệ. Cũng chẳng cần bận tâm, vì bọn trẻ con ở xóm đứa nào cũng y một kiểu như thế!
Lớn hơn một chút, khi đã leo ngồi được trên yên, dù chân tôi vẫn hổng phải đạp theo lối
nhắp nhắp hai pê-đan, mông thì ẹo ẹo, tha hồ lắc lia, nhưng tự tôi vẫn thấy vô cùng hãnh diện
(ôi chao, ngỡ như mình đang lớn hẳn ra). Chính trong một lần nhắp nhắp, lắc lắc và ẹo ẹo, lơ là
không thèm nhìn ra phía trước đúng theo “mô-đen của người lớn” đó, tôi đã lao thẳng chiếc xe
vô một đống gỗ. Tất nhiên là té, té quay cu lơ. Đau, đau thấu trời thấu đất. Kỷ niệm in hình
thành hàng đống vết sẹo ngắn dài, lớn nhỏ, nông sâu đủ cỡ – ở nơi đôi cùi chỏ của cả hai tay, và
trên hai đầu gối – chính là kết quả tạo hình từ những vết thương chỉ chịu lành hẳn miệng và lên
da non sau suốt một quá trình dài tới hơn hai tháng. Rất may chiếc xe chỉ bị xây xát nhẹ, và ba
đã “khuyến mãi” thêm cho tôi một trận đòn ê ẩm cả mông ngay buổi chiều đi làm về vừa được
biết tin - dành cho cái tội “liều lĩnh” khi dám làm một việc quá sức (ba lập luận: “bây giờ chỉ là
té vô đống gỗ, lỡ không may con húc phải một đống… gì to lớn và nham nhúa hơn, thì có ai biết
đâu mà đỡ!”). Lúc đó, tôi đã cố cắn răng chịu đựng cùng lúc nhiều thứ đau, lòng tự nhủ nếu ba
thương mình kiểu này thì thà đừng thương có lẽ khỏe hơn. Tôi đã chỉ ước ao sao cho chân mau
chóng dài ra, để mỗi khi leo lên xe sẽ tha hồ đạp thẳng tưng, không còn phải “nhắp nhứ” nữa.
Ôi, giấc mơ tuổi thơ tội nghiệp.
Mà thôi, phải quay trở lại “hiện trường” nơi cây cầu, để tôi kể tiếp câu chuyện của tôi cho
bạn. Phân tích tâm lý thấy dài dòng, bất tận, chứ còn trong thực tế, mọi sự diễn ra cũng chỉ mất
đâu khoảng hai, ba phút. Bây giờ tôi đang đứng lặng im bên chiếc xe, với bao suy nghĩ trong
lòng ngổn ngang. Lẽ ra tôi phải thông minh hơn, để xe ở nhà và đi bộ tới đây. Có như vậy trước
khi qua đời, tôi mới không thể gây ra thêm một lỗi lầm nghiêm trọng. Nay thì sự đã lỡ, tôi thấy
phân vân quá, không biết nên cư xử sao cho đúng. Vậy là, với tinh thần trách nhiệm và ý thức
cao – kiên quyết giữ gìn tài sản chung cho gia đình, tôi đành tạm gác “bước hai” trong kế hoạch
tự tử của mình để đạp xe về.
Trên đường, tiếp tục miên man suy nghĩ đủ thứ trong đầu, dù chẳng còn là đứa trẻ chân
không đủ dài để cứ phải nhắp nhứ mãi vẫn không đạp tới pê-đan, nhưng đúng là tôi đã không
hề mảy may bận tâm tới những gì đang xảy ra ngay trước mắt (đồng nghĩa: “xảy ra trên
đường”). Bởi thế cho nên, chỉ mất không đầy tám phút kể từ sau khi tôi đổ dốc (cầu), một chiếc
xe hơi cũ rích đã lao thẳng vào tôi. Hay chính xác và cụ thể hơn, tôi đã lao đầu thẳng vô chiếc
xe hơi cũ mèm và chạy nhanh như tên bắn đó. Cảm xúc của lần đụng độ này cũng không khác
nhiều so với cái lần ở tuổi ngắn chân - khi tôi táo tợn “so tài” cùng đống gỗ. Cũng “hoa cà hoa
cải” nở bung lên choáng váng, sau khi tung mình bay bổng trên không, và đau thấu tim gan,
đau đến nỗi không thể nào phân biệt rõ đã bị chấn thương nghiêm trọng ở đâu. Tôi đã rơi như
một trái mít rụng, rồi lăn đùng luôn ra đất - ở ngay bên cạnh chiếc xe đạp thân yêu (cũng nát
tan thân xác chẳng kém gì tôi) và ngất lịm đi.
Nói thật với bạn, chi tiết “chiếc xe hơi cũ rích” mà tôi đã liệt kê ra ở trên - thật ra là do sau
này, khi đã tỉnh hẳn lại tôi được nghe kể lại. Từ lời của mẹ, và mẹ thì cũng được nghe từ lời của
những người dân hai bên đường được (hay bị?) chứng kiến tai nạn của tôi lúc đó. Một bà mập
xởi lởi và hay chuyện đã miêu tả lại:
- Con nhỏ lao băng băng, tông thẳng vô ngay đầu, phía bên phải của một chiếc xe hơi cũ rích.
Chắc nó bị bệnh mộng du? (mẹ tôi đã gật “sái cổ” ở ngay chỗ này) Chiếc xe hơi sau đó hốt
hoảng bỏ chạy. Còn mọi người vì căng thẳng quá nên cũng không kịp liếc nhìn và nhớ tới biển
số xe…
Cũng còn may, mọi người sau cơn kinh hồn hoảng vía đã bừng tỉnh nhớ phải làm ơn làm
phước đưa giùm ngay tôi vô bệnh viện để cấp cứu. Tại phòng cấp cứu của Trung tâm Y tế Quận,
nhờ vào cái phù hiệu thêu trên ngực áo (lúc đó tôi mặc áo sơ-mi trắng đi học – thời của tôi, nữ
sinh cấp ba chưa phải mặc áo dài trắng như bây giờ), người ta đã tìm tới tận trường cấp ba
N.T.T để báo tin cho cô V. chủ nhiệm lớp 12A7 của tôi biết, và cô điếng người, mau mắn báo
ngay lại cho gia đình của học trò.
Khi ba chở mẹ vô được tới phòng cấp cứu để hỏi han thì tôi đã qua cơn nguy kịch. Bác sĩ cho
hay tôi chỉ bị xây xát, bầm dập chủ yếu ở các phần mềm, và bị choáng, sốc phản vệ do va đập
mạnh. Ba mẹ đã giấu ông bác sĩ tận tâm, giấu cô V. - cô giáo chủ nhiệm của tôi, đồng thời giấu
rất nhiều người khác về lá “thư tuyệt mạng” mà tôi đã để lại ở nhà, trên bàn xa-lông - trước khi
đi ra đường. Cả ba lẫn mẹ đều đinh ninh tôi đã chọn “phương án” tự tử là lao thẳng đầu vô xe
hơi. Mệt và vẫn còn đau, nên tôi cũng chẳng cần thanh minh. Khác về tình huống, nhưng trong
bản chất thì mục đích của tôi cũng có gì khác đâu. Rõ ràng là tôi đã muốn chấm dứt cho xong
cuộc đời của mình.
Chưa biết nên buồn hay nên vui sau cú tự tử không thành công, chỉ biết là tôi vẫn còn phải
sống tiếp. Sống để hiểu, sau tuổi mười bảy tươi hồng có cả thất vọng đớn đau - lẫn với đôi
mầm hy vọng le lói, sẽ còn những niềm vui, nỗi khổ đau, điều hạnh phúc và sự sung sướng nào?
Chỉ một điều mà tôi dám tin chắc: từ nay, cho dù giận tới đâu thì mẹ cũng sẽ không bao giờ
“dám” gọi tôi nặng nề là “đồ con hoang đáng chết” nữa!
Nào ai biết được chữ ngờ
Kinh nghiệm cá nhân của tôi đúc kết được qua suốt mười bảy năm: tiếp theo một nỗi buồn
sẽ là một niềm vui. Cũng chưa biết niềm vui gì, chỉ thấy sau khi xuất viện về nhà, ba mẹ rõ ràng
đã cư xử với tôi vô cùng gượng nhẹ.
Cả ba lẫn mẹ đều tránh rầy la, không nói nặng, cũng không dằn hắt, nhắc nhở, chẳng hề nói
tới nói lui về chuyện đã qua, kể cả cái việc tày đình tôi đã dám lao đầu vô xe hơi “tự tử vì thi
rớt”. Ngay cả thằng em trai ngỗ ngược, thích châm chọc và xiên xỏ tôi cũng tỏ ra rất dễ thương,
rất chi ư một vừa hai phải. Nó rất ân cần và nhỏ nhẹ chăm sóc bà chị gái thân yêu – chính là tôi
– giống như chăm sóc một vật thể làm bằng pha-lê mỏng manh dễ vỡ. Nỗi buồn trong tôi bỗng
như nhẹ gần nửa gánh. Tôi lại thấy rằng mình đáng sống. Phải sống, để tập trung ôn luyện, thi
lại năm sau cho tốt. Nhưng trước hết, phải bình tĩnh hơn, định hướng rõ ràng xem có thật là tôi
chỉ thích chuyên sâu ngành Vật tư của trường Đại học Kinh tế? Hay tôi chỉ muốn thi vô để
chiều ý mẹ? Câu hỏi này - hóa ra muốn trả lời cho êm cũng không đơn giản. Dường như tôi đã
không tự hiểu hết bản thân, và chưa lượng cho thấu đáo những khả năng của mình.
Một tháng “hậu của hậu – thi – rớt” đã trôi qua trong lưỡng lự êm đềm, trong chăm sóc dịu
dàng của mẹ, ba, của đứa em trai, tôi vẫn tiếp tục dùng dằng, ấp úng, chưa thể đưa ra quyết
định sau cùng. Cho tới một buổi tối, vào lúc cả gia đình tôi đang quây quần xem chương trình
“bông hoa nhỏ” với bộ phim hoạt hình nổi tiếng của Liên xô Hãy đợi đấy (có thỏ và chó sói - na
ná như Mèo Tom và Chuột Jerry của Hãng phim Waltz Disney). Ngay lúc bộ phim vừa hết, nhạc
hiệu chương trình thời sự nổi lên thì ba tôi bỗng điều chỉnh âm thanh ti-vi cho nhỏ xuống,
nháy mắt ra hiệu với thằng em tôi (thằng này hiểu ý ba vội vui sướng gật, chuồn nhanh ra cửa
đi chơi). Ba nhìn thẳng tôi, đĩnh đạc mở lời:
- Mi à, đây là câu chuyện có liên quan tới một người, vốn là em bà con cô cậu ruột với ba.
Trước đây, vợ chồng chú ấy sống ở miệt Châu Đốc, An Giang…
Tôi nhanh nhảu đáp ngay:
- Dạ, con biết. Chú Sáu Hưng.
Ba tôi gật, “Đúng”. Và hỏi tiếp:
- Vậy con còn nhớ bé Lan, đứa con gái duy nhứt của hai vợ chồng chú ấy không?
Ối trời! Chẳng lẽ ba cố tình quên tôi đã không chỉ một lần cặp kè thân thiết với con nhỏ như
hình với bóng, đã từng “ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu”, từng xem chung chỉ một cuốn sách với
nó (đó là cuốn Bông hồng vàng của Pau-tốp-xki mà cả Lan lẫn tôi đều rất thích)… Còn nhớ
những lần Lan theo ba má lên nhà tôi chơi, chẳng cần chứng minh thì mọi người vẫn thấy hai
chị em tôi đã “quấn chặt lấy nhau như sam”, rất – rất tâm đầu ý hợp ra sao.
*
Rồi một lần khác, vào dịp nghỉ hè, tôi đã theo chú Sáu về tận Châu Đốc. Ở lại trong ngôi nhà
bè tiện nghi nổi - trên - mặt - nước của gia đình chú suốt ba ngày dài, “lênh đênh” đúng nghĩa.
Tôi đã cùng với Lan bằm rau muống, trộn cám, vò viên thức ăn để nguội, phơi ráo, rồi hăm hở
mở nắp bè thả xuống cho cá ăn. Nằm trên sàn gỗ, tôi im nghe sóng vỗ mạn bè ì oạp, hưởng lấy
làn gió sông trong lành, mát rượi, nghe Lan rù rì kể chuyện bằng một giọng êm ả, yêu thương.
Cá tra, cá lóc, nhiều nhất là cá ba-sa… mỗi con một tánh ý riêng. Lan đã “thuộc nằm lòng” hết
cả bọn chúng qua suốt một thời gian dài cùng ba má chăm sóc, dưỡng nuôi - thường từ chín
tới mười hai tháng.
Lan nhỏ hơn tôi hai tuổi. Tóc dài, da trắng xanh, dáng người thanh mảnh. Hơi yếu ớt nếu
đem so với vẻ bề ngoài của nhiều thiếu nữ ở vùng ngã ba sông – nhưng vẫn rất giỏi giang, dịu
dàng, đằm thắm. Nói năng thì nhỏ nhẹ, từ tốn, nụ cười với má lúm đồng tiền tươi rói như hoa
chính là thứ “tài sản” đặc quyền khiến những ai đã gặp cô bé một lần sẽ không bao giờ có thể
quên…
- Nhưng, tại sao bỗng dưng ba lại hỏi con về Lan? - Tôi ngạc nhiên.
Câu trả lời của ba đã khiến tôi lặng run hết cả người, tê tái:
- Lan nó… mất rồi.
- Trời đất… Em ấy… mất bao giờ vậy ba? Vì sao mà… mất?
- Tháng trước, con à. (ba thở dài) Con cũng biết nó bị bệnh tim. Bệnh trở nên quá nặng, nó
đã không qua khỏi.
Đúng vào lúc tôi mải mê muộn phiền, loay hoay bế tắc trong nỗi thất vọng, chán chường,
đau khổ của riêng tôi - thì vợ chồng chú Sáu Hưng cũng đang đau nỗi đau tận cùng của những
bậc mẹ, cha vừa mất đi đứa con gái ngoan hiền, xinh đẹp, giỏi giang duy nhất. Có những chứng
bệnh mà ngành y - cho dù có các bác sĩ giỏi giang, có những máy móc hiện đại tới mấy cũng
đành phải bó tay, ngả nón chào thua. Hết cách. Chú Sáu và vợ buồn tới nỗi đã kiếm mối quen
sang luôn bè cá nơi ngã ba sông đang ăn nên làm ra, kèm theo tất cả những món đồ và các tiện
nghi trong căn nhà bè “trôi nổi”, rồi chuyển luôn về thành phố sống (có sự giúp đỡ rất ân cần
của ba mẹ tôi), đoạn tuyệt với khoảng đời quá khứ, đoạn tuyệt những kỷ niệm buồn gợi nhớ
tới Lan, đứa con thân yêu sẽ không bao giờ còn có thể tìm lại được nữa…
Nghe lời kể của ba nước mắt tôi cứ chảy ra giàn giụa, vừa quá thương Lan, thương cả chú
thím Sáu, lẫn thương cho ba mẹ tôi. Trời đất ạ, nếu như hơn một tháng trước đây tôi tự tử
“thành công”, chưa biết hai đấng sinh thành ra tôi sẽ còn phải buồn đau, thương tiếc tôi tới tận
cỡ nào?
Thời điểm diễn ra câu chuyện bi thảm, ba mẹ đã giấu - bởi không muốn làm cho tôi thêm
phần rối trí. Bây giờ, thấy tôi có vẻ nguôi ngoai và đã lấy lại được bình tĩnh, hai người mới
quyết định kể. Nhưng tôi bỗng có một linh cảm kỳ lạ rằng chuyện tới đó vẫn chưa phải là hết.
Còn có một chút gì vướng vít, lấn cấn, và hình như cả ba lẫn mẹ đều đang cố tìm cách nào suôn
sẻ và dễ chịu nhất, để “lôi” tôi cùng nhập cuộc.
Nghĩ vậy nên tôi bèn nói nước đôi:
- Con biết, nếu chú thím Sáu thương yêu em Lan tới đâu, thì ba mẹ cũng thương yêu con tới
đó…
Ba có vẻ hơi lúng túng, không nhìn tôi, nói ngoặt hẳn sang ý khác:
- Trong số những anh em, bà con bên ngoại của ba, tức là bên bà nội của con, không hiểu sao
ba thấy hợp tánh tình và thương yêu chú Sáu con nhứt. Có thể là do… một mối giao cảm khác
thường nào đó, bởi vì ngày xưa, bà nội con cũng thương nhứt ông Năm (mà ba kêu bằng cậu),
chính là người đã sanh thành ra chú Sáu.
Mẹ tiếp lời ba, giọng nghe sâu lắng:
- Tội nghiệp cô Minh lắm, Mi ạ. Những ngày tháng đau khổ này, đối với cô ấy thật nặng nề,
ngỡ như không thể nào chịu đựng nổi. Mẹ cũng là một người mẹ, nên mẹ rất hiểu nỗi đau mất
con của cô.
Cũng quên chưa giải thích với bạn, thím Sáu, tức vợ của chú Sáu Hưng tên là Minh. Chỉ vì lúc
nhỏ, tôi không quen cách gọi bằng “thím” nên đã gọi đại là “cô Minh”, thím cũng vui vẻ xưng
“cô Minh” lại với tôi rất ư là vô tư, thoải mái. Riết rồi quen, lớn lên tôi không tài nào sửa được.
Người lớn cũng cười xòa, “Thôi kệ, muốn kêu sao cho dễ thì kêu. Miễn biết nhau có bà con ruột
rà là được”.
Rốt cùng tôi mới “té ngửa”, hóa ra ba mẹ đã âm thầm bàn bạc với nhau suốt hơn một tuần lễ
nay, thậm chí có cả hỏi han ý kiến của thằng Mẫn, em trai tôi. Và tôi, nhân vật chính của câu
chuyện, bỗng trở thành người biết chuyện sau chót. Ba mẹ muốn tôi tạm một thời gian trở
thành con nuôi của cô chú Sáu. Qua bên nhà cô chú sống, trước là tôi sẽ an ủi, động viên, giúp
cho hai người vơi bớt phần nào nỗi đau thương, buồn khổ sau cái chết của em Lan; sau rồi cả
hai sẽ giúp ngược lại tôi tìm ra sự thanh thản, tĩnh tại trong tâm hồn; để tôi có thể đưa ra một
quyết định sáng suốt cho tương lai - sao cho phù hợp với khả năng và ý nguyện riêng tư của tôi
nhất… Nghe đã thấy vô cùng hợp lý, nên tôi không thể không gật đầu.
Thật tình mà nói, tôi đã không hề suy nghĩ sâu sắc, thấu đáo tất cả mọi lẽ giống như ba mẹ.
Đơn giản vì tôi đang thấy chán, đang muốn tìm một điều gì đó giúp “xáo trộn”, làm mới mẻ
hơn cho cuộc sống. Thì đây, chuyện không ngờ nhất xảy ra: thay đổi ngay chỗ ở. Có thể coi như
đó chính là một niềm vui, niềm - hân - hoan - tự - tới sau một cơn buồn dài u uất. Lại thêm một
lý do khá “an toàn” để tôi yên tâm: nhà của cô chú Sáu (hiện nay) cũng không xa nhà tôi bao
nhiêu, nên tôi rất dễ chạy đi chạy lại những khi nào thấy nhớ, muốn về thăm gia đình…
Vậy là tôi gói ghém hết những đồ đạc, áo quần của mình, cộng thêm vài ba thứ lặt vặt, linh
tinh mà một cô gái mười bảy tuổi thấy cần, bỏ gọn hết vô trong các ngăn của một cái túi xách
lớn. Đã có thật nhiều những lời dặn dò, khuyên bảo của mẹ, ba, và không ít những bịn rịn, luyến
lưu của thằng em tôi vốn bình thường ngỗ ngược.
Hôm chia ly, mọi người đứng nơi thềm cửa, vẫy tay chào tôi vô cùng thân ái. Tất cả đều cười
tươi tắn, rạng rỡ, kể cả mẹ, nhưng tôi đinh ninh là đôi mắt mẹ đang long lanh, đong đầy những
giọt nước. Vợ chồng chú Sáu cưỡi trên chiếc honda “đam” màu xanh, cô Minh ngồi sau ôm chặt
lấy cái túi to đựng những “tài sản” quí giá nhất của tôi. Cả hai “kè” theo tôi chạy chiếc xe đạp
“đầm” vừa mới được sửa sang. Quên chưa kể cho bạn, sau vụ tai nạn xe –đạp – mà – dám –tông
– vô – xe – hơi, ba mẹ tôi cũng tốn bộn tiền để thay hàng loạt những món phụ tùng bị hư hỏng
và cho sơn phết lại, nên bây giờ trông chiếc xe rất “bảnh bao”, sáng sủa hẳn lên, mới gần như
xe vừa xuất xưởng.
Tự nhiên, trong cái không khí tiễn đưa có phần bịn rịn, tôi bỗng cảm giác như đang dời đi
sống ở một nơi nào đó thật xa, xa lắc. Dường như rất lâu tôi mới có thể gặp lại mẹ, ba, thằng
Mẫn... Vậy là nước mắt tôi cứ ứa ra, lấm luốc tèm lem trên mặt giữa buổi chiều chạng vạng.
Cũng may vì trời cứ sẩm tối dần nên cô chú Sáu không trông thấy. Nếu không, lỡ bị hỏi han thì
tôi cũng không biết đường đâu để mà giải thích…
*
Ngôi nhà của cô chú Sáu rộng khoảng hơn sáu chục mét vuông: bốn mét rộng, nhân với
mười lăm phẩy ba mét dài. Có một lầu, được chia sẵn thành hai phòng. Một phòng là phòng
ngủ của hai vợ chồng cô chú, phòng kia dành riêng cho tôi. Nhà nằm ở mặt tiền của một con
đường mà người, xe qua lại chỉ đông ở mức vừa phải, nên cũng không tới nỗi quá ồn ào. (Dù
sao, tôi thấy cần phải giải thích thêm: vào thời đó, việc bán buôn, kinh doanh chưa phát triển
sầm uất và cạnh tranh khốc liệt như thời nay, cho nên những ngôi nhà mặt tiền cũng không đắt
giá tới mức người “vừa ở dưới quê lên” như vợ chồng cô chú tôi không thể nào mua nổi).
Chú Sáu đã xin vô làm cán bộ kỹ thuật trong một công ty xuất nhập khẩu thủy, hải sản đông
lạnh, do có được mối quen biết sẵn từ hồi còn nuôi cá bè (thật ra, chú tôi là kỹ sư Nông
nghiệp). Còn cô Minh kêu tới vài ông thợ, nhờ lên bức vách ngăn ngang một nửa phòng khách,
mở một “tiệm” tạp hóa nhỏ để buôn bán linh tinh ở phía trước. Vừa giải khuây, vừa có chút
đồng ra đồng vô đắp đổi thêm tiền chợ. Cũng là một cách hay để cô sẽ tiếp cận nhanh với nhịp
sống sôi nổi của người dân thành phố. Nhưng thôi, khoan nói tới cái tiệm tạp hóa nho nhỏ của
cô Minh. Để tôi kể cho bạn nghe về căn phòng riêng – của – một – mình – tôi cái đã.
Trời ạ. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới nay, đây là lần đầu tiên tôi có riêng cả một căn phòng.
Phòng rộng hơn mười tám mét vuông, có đầy đủ các tiện nghi: giường, tủ, bàn, ghế… Một cửa
sổ rộng mở tung hai cánh, ngó thẳng ra sân sau, những chấn song xếp hàng thẳng đều tăm tắp,
mành trúc lưa thưa hai màu trắng, đỏ. Cửa ra vào với ổ khóa riêng hẳn hoi, một xâu những hai
chìa. Tôi ngỡ mình như đã biến thành một cô tiểu thư rất chi là đài các.
Nhà của ba mẹ tôi thì khác. Được xây theo kiểu “truyền thống”, rập khuôn bao nhiêu những
căn hộ tập thể “hình ống” mọc lên nhan nhản khắp trong thành phố. Nghĩa là: tất cả đều thông
thống từ trước ra sau. Cứ khoảng hai, ba mét chiều sâu, lại thấy xây lên một bức tường - cao lút
trần với một hàng bông gió lửng lơ, mặc nhiên coi như ranh giới của các “phòng”. Rồi tới bếp,
liền kề với công trình phụ. Phần không gian dành riêng cho tôi được “hiểu ngầm” là một cái
giường đơn, kê sát với giường ...
Nguyễn Thu Phương
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
Table of Contents
Nỗi buồn có tên
Nào ai biết được chữ ngờ
Biệt danh Xương Rồng
Những chuyện bí mật
Giải mã giấc mơ
Hoa và trái
Đánh cắp niềm tin
Bí mật cuối cùng
Nỗi buồn có tên
Năm đó tôi mười bảy tuổi. Cái tuổi thường buồn những nỗi buồn không tên, rất vu vơ, ngờ
nghệch và vớ vẩn. Buồn vì nắng, vì mưa, vì gió, vì mây… Buồn theo kiểu mà một nhà thơ đã
“bắt mạch” rất hay: “Hôm nay trời nhẹ lên cao, tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn”. Nhưng trong
tình huống này thì khác, nỗi buồn của tôi tượng hình tượng dạng, buồn có tuổi có tên hẳn hòi:
buồn – vì – thi – rớt. Chính xác và cụ thể hơn: sau khi xong lớp 12, tôi rớt ạch khỏi cuộc thi
tuyển sinh thường niên vào trường Đại học Kinh tế, rớt không còn đường để cứu vãn.
Còn nhớ những năm cuối thập niên 80 đó, mỗi thí sinh tốt nghiệp trung học phổ thông chỉ
được đăng ký thi vào một trường Đại học duy nhất, và nếu không đậu được hệ A chính thức thì
chỉ còn hệ B đóng tiền (điểm thi cũng phải suýt soát, chỉ được thiếu tối đa 1,5 điểm), và hệ C
là… dự bị. Trong khi tôi lại thiếu tới 2,5 điểm so với mức chuẩn, nên coi như đành “bó tay”. Bởi
vậy nên tôi buồn, một trận buồn kéo dài qua cả tháng kể từ khi nhận được tờ giấy báo tin “sét
đánh” gửi về tận nhà (mặc dù trước đó “sét” đã “đánh” một lần rồi - lúc tôi đi xem bảng báo kết
quả thi dán nơi sân trường Kinh tế, có tên tôi in kèm số báo danh, số điểm từng môn và một
chữ “R” ở cột sau cuối, nhưng ngay cả trong lần hai tôi vẫn còn bàng hoàng, chưa muốn tin vào
sự thật đau lòng đó).
Hẳn là đọc tới đây bạn sẽ thấy thoáng chút ngạc nhiên, và bạn tự hỏi, “Ủa sao kỳ vậy, chẳng
lẽ “đằng ấy” thi sớm một năm?”. Rằng – thì – là bạn đã đúng, tôi trở thành “sinh viên” lớp một
từ khi mới được năm tuổi. Thuở tôi còn nhỏ xíu, ba mẹ tôi đã vô cùng hãnh diện. Bất cứ gặp ai,
hai người cũng hớn hở khoe rằng có đứa con thần đồng. “Nó mới ba tuổi thôi mà đã biết đọc
chữ vanh vách” (sự thật đúng là tôi có khả năng ấy: những bảng hiệu to trên đường hay những
tựa báo, chuyện “đọc chữ vanh vách” đối với tôi chỉ là chuyện nhỏ). Bởi vậy ba tôi đã quyết
định sửa khai sinh để xin cho tôi đi học sớm. “Danh chánh ngôn thuận” thì sáu, nhưng tuổi thật
tôi chỉ mới vừa lên năm. Nói nào ngay, hồi cấp một, cấp hai tôi học rất giỏi, cũng đáng làm mát
mặt mẹ cha. Dần lớn lên, tới tận lớp chín tôi vẫn còn học giỏi. Năm nào tôi cũng được chọn vào
lớp tuyển. Mấy lần đi thi học sinh chuyên toán, chuyên văn cấp Quận, rồi cấp thành phố. Dựa
trên đà đó, ba mẹ tôi đinh ninh việc vô Đại học của tôi chỉ còn là chuyện của thời gian. Đến hạn
thì đi thi, và đến thi thì phải đậu. Chuyện trong gang tấc! Chẳng ai nghĩ một thí sinh có nền
tảng học tập “cứng cựa” và một bảng thành tích đáng nể như tôi lại có thể thi rớt. Mà là rớt đau
thương, thê thảm, tan nát.
Phải “moi móc” lại chuyện ngày xửa ngày xưa kể cho bạn nghe, cũng chỉ vì mong bạn hiểu
rằng tôi đã khổ tâm đến mức nào. Nếu người khác buồn vì thi rớt một phần thì tôi đã phải
buồn hơn gấp mấy. Cái chính là do tôi đã làm ba mẹ quá thất vọng, đặc biệt là mẹ - người đã
gởi gắm vào tôi giấc mơ ngọt ngào nhất của thời hoa niên mà mẹ đã không thể nào thực hiện.
Thời của mẹ - mọi thứ đều thiếu thốn, cực khổ, khó khăn, vất vả trăm bề, chẳng được như tôi
bây giờ, nên mẹ đành phải “ra đời” đi làm sớm, không thể học tiếp lên cao sau khi tốt nghiệp
xong phổ thông. Chính vì vậy mẹ đã vô cùng mong mỏi tôi thi đậu vào Đại học Kinh tế, để
“đeo” cho bằng được một ngành học nào đó có liên quan tới công việc “làm ăn, kinh doanh”.
Mẹ muốn cho đời tôi sẽ được sung sướng, an nhàn, thảnh thơi, giàu có… Không day dứt, lao
tâm khổ tứ vì cơm áo, gạo tiền, mắm muối như đời mẹ.
Tôi vẫn còn nhớ như in trong hồ sơ đăng ký dự thi, phần nguyện vọng ngành học tôi đã đánh
dấu “X” chọn ngay “Kinh tế Vật tư”, dù cũng không hiểu mấy về công việc này. Bạn bè tôi, hùa
theo câu “văn vần” thời thượng - lúc đó đang lan truyền khắp các cửa miệng về mốt chọn
ngành học - đã thi nhau “nhất Y, nhì Dược, tạm được Bách khoa”. Chỉ có những đứa rất “thực
tế” trong định hướng - tương tự như tôi - mới thẳng đường theo “Kinh tế” mà đi.
Bây giờ ngồi nhớ lại, kể cho bạn nghe thì tôi đã bình tĩnh lắm. Chứ dạo ấy, sự thật là tôi chỉ
còn muốn chết! Vốn là một cô bé đa cảm, đa sầu, hay mơ mộng, ưa mê đọc những trang tiểu
thuyết diễm tình đẫm lệ, khi buồn đến tan nát cả cõi lòng, buồn tới không gì có thể buồn hơn,
tôi chỉ còn cách lặng thầm mơ cho mình một cú… tự tử – sao cho day dứt và ngọt ngào nhất.
Chết đi trong chiếc áo đầm vải mềm và trắng như tuyết chẳng hạn, với thân xác phủ đầy hồng
hoa – thứ hoa hồng vàng lạnh lùng kiêu sa tôi vô cùng yêu. Đó là kiểu chết đẹp tuyệt vời mà các
nhân vật nữ thơ dại và trẻ trung thường chọn mỗi khi có sự gì bất đắc ý, hoặc bất đắc chí (ấy là
tôi đọc được từ những cuốn sách). Cũng không hiểu họ mua ở đâu thứ thuốc độc êm dịu để
uống vô xong, thác xuống tuyền đài rồi mà nét mặt và thân thể vẫn còn xinh đẹp và tươi
nguyên, giống y như đang nằm ngủ. Thậm chí đôi môi hồng son vẫn còn hé nở một nụ cười
ngất ngây. Tẩn mẩn trộm nghĩ, lẽ ra “tử nhân” phải co giật đùng đùng, quơ quào và sùi bọt mép
tứa ra hai bên cằm, trông kinh khủng và ghê gớm lắm - chứ không thể ngọt ngào và tươi tắn
giống như trong sách tả vậy được. Nhưng thôi, văn học chấp nhận mọi sự tưởng tượng, và
không thể cấm nhà văn không được hư cấu.
Lẽ thường, không cô gái mười bảy tuổi nào muốn từ bỏ cõi đời trong một hình dung còng
queo vật vã, vừa xấu xí lại vừa ám ảnh, và tôi cũng không ngoại lệ khỏi “nguyên tắc” đó. Chưa
nói, tôi lại rất nhát đòn và sợ đau. Làm sao để chết không đau? Nhảy từ trên lầu cao? Lao đầu
vào xe? Dùng thòng lọng? Hay châm mồi lửa tự thiêu? Chỉ nghe thôi đã thấy dễ sợ.
Vậy rồi có một hôm, tôi đạp xe lọc cọc ra cầu An Lộc, quyết định chọn giải pháp nhảy xuống
sông để chấm dứt tất cả muộn phiền sầu não (tôi không biết bơi). Trước cái ngày mà tôi đưa
ra quyết định tày đình bi thảm đó, một trận rầy la khá “trời long đất lở” của mẹ đã diễn ra
“thông tầm” - kéo suốt từ chiều tới tối. Mẹ dành cho tôi kha khá những lời thậm tệ, nặng nề đủ để bất cứ cô gái đa cảm, đa sầu và hay khóc nào cũng có thể đau, tức và buồn đến tự cắn lưỡi
mình mà “ra đi” cho nhẹ cõi lòng tan nát. Tôi biết mẹ rất giận, và biết tính mẹ hay nổi nóng
những khi bực bội quá mức, rồi hễ nóng thì sẵn sàng tuôn ra vô vàn lời chỉ toàn nồng cay, đắng
chát (đó không phải là chuyện quá mới, và tôi đã từng chịu trận rất nhiều lần – cho đủ mọi lý
do). Nhưng lần này thì “quá tải”, trận rầy la đã kéo thần kinh tôi căng lên tới mức đỉnh điểm,
tôi đã không thể chịu đựng nổi khi mẹ gọi tôi là “đồ con hoang đáng chết”! Đồng ý với mẹ rằng
tôi sai, tôi làm ba mẹ buồn, tôi là nỗi thất vọng lớn lao, là tấm gương đen xì để em trai tôi nhìn
vô cười chê, là đồ khốn kiếp văn dốt võ nát, thi đâu hỏng đó, vân vân và vân vân… Nhưng tôi
không phải “con hoang”. Tuyệt đối không. Cho dù giận đến đâu thì mẹ cũng không có quyền sỉ
mắng tôi bằng cách “vu oan”, tuyên bố về tôi không đúng. Thi rớt thì tôi vẫn là con của ba mẹ
chứ!
Vậy là tôi đã quyết định xong sau một đêm thức trắng, khóc âm thầm tới nỗi mắt đỏ mọng
lên và sưng hum húp. Ngay sáng hôm sau, lúc tám giờ hai mươi tư, khi ba mẹ đều đã đi làm
vắng, tôi lẳng lặng khóa cửa, dắt xe đạp ra khỏi nhà, bảng lảng bơ lơ đạp xe tới cầu An Lộc.
*
Cầu An Lộc ở cách nhà tôi khoảng hai mươi bảy phút đạp xe. Đó là cây cầu bê-tông cỡ vừa
bắc ngang một nhánh của sông Sài Gòn, nối giữa quận Gò Vấp và Hóc Môn (bây giờ là quận 12).
Thời ấy, mỗi buổi chiều, rất nhiều đôi nam thanh nữ tú thích chở nhau lên cầu rồi dừng xe, tấp
vô hai bên lề để đứng hóng mát, ngắm hoàng hôn đổ bóng chiều tà. Còn bọn nhóc choai choai
thì khoái leo lên thành cầu làm bằng xi-măng, hai tay giang rộng, miệng khoái chí cười vang,
sau đó cắm đầu nhảy ùm xuống sông. Chúng quẫy nước đùng đùng - nhóm này thì tắm, nhóm
kia bơi đua, nhóm khác vung vẩy chân tay, tạt sóng lên cao thành những cơn mưa, những “vòi
rồng” nổi ngọn, những đám mây cầu vồng đủ màu lung linh, lấp lánh. Sinh ra ở đây nên chúng
bơi lội như rái, chưa bao giờ biết sợ “ông Hà Bá”, hay “ông thần sông”…
Nhưng đó là chuyện của những buổi tà dương, mỗi khi mặt trời xế bóng. Còn ban ngày - như
thời gian của tôi lúc này - thì cầu chỉ có người và xe đi ngang qua hối hả, chẳng có ai bận tâm
dừng lại. Tôi đứng trên cầu nhìn xuống mặt sông, thấy nắng vàng ngọt như mật trải trên những
mớ lục bình ù lì trôi chậm rãi, sông chảy xuôi lăn tăn vảy cá, dòng nước mịn màng tựa một khối
rau câu khổng lồ, mềm và mát, không ngừng chuyển động. Phía xa cao, mặt trời chói chang
nhòa thành khối lửa vàng cam, trời trong xanh và mây đục như cháo đặc đổ thành từng vũng.
Hai bên bờ, dừa nước, dừa cạn và những lùm bụi gì đó không rõ tên xanh um, mướt mát. Có thể
trong đôi mắt của một kẻ đang day dứt buồn, tất cả sự việc đều kém tươi đi hơn thực tế rất
nhiều. Vậy mà tôi không thể không thốt lên rằng cảnh vật sáng nay sao đẹp quá. Không u ám,
âu sầu và nặng trĩu như nội dung của bức “thư tuyệt mạng” mà tôi đã để lại trên bàn xa-lông ở
nhà trước khi dắt xe đạp ra đi.
Thư viết: “Ba mẹ kính yêu. Con cảm thấy chán chường, tối tăm, mệt mỏi và tràn đầy tuyệt
vọng. Đến nỗi không còn thiết tha muốn biết sau tuổi mười bảy tươi hồng của con sẽ còn tiếp
những niềm vui, nỗi khổ đau, điều hạnh phúc và sự sung sướng nào...… Gánh nặng mà con đã gây
ra cho bản thân, cho ba mẹ và cho gia đình, giờ đây con cảm nhận đã không còn mang vác nổi. Vì
vậy con mới phải chọn lấy một giải pháp rất “tiêu cực” là tìm đến với “sự chấm dứt”. Kính mong
ba mẹ sẽ tha thứ và thông cảm cho con. Đứa con sai lầm và yếu đuối. Mi”.
Bây giờ tôi đứng đây, hít căng lồng ngực thứ không khí nồng nàn, mê đắm và cảm xúc đầy
tràn của con người quá ư nhỏ bé trước một dòng sông. Kế hoạch của tôi cũng đơn giản thôi, chỉ
sau đó vài phút, tôi sẽ leo lên thành cầu, cũng dang rộng đôi tay, cũng mở rộng miệng toe toét
cười và cũng cắm đầu nhảy ùm xuống – giống y như lũ trẻ choai choai vẫn hay thường làm. Chỉ
khác là tôi không biết bơi. Tôi rất sợ các “ông thần sông”, hay “ông Hà Bá”. Tôi cũng sẽ vung
vẩy chân tay, tạt sóng lên cao thành những cơn mưa, những “vòi rồng”, những đám mây cầu
vồng đủ màu lung linh, lấp lánh. Nhưng là cách vung vẩy và tạt, và quẫy, và chơi vơi của một
người đang bị đuối sức. Rồi nước sẽ bao bọc lấy tôi, sẽ ùa vào miệng, vào mắt, vào mũi tôi, sẽ
kéo tôi chìm xuống, ôm siết tôi vào lòng. Chẳng biết rồi tôi sẽ nằm yên tại đáy sông nơi đó hay
bỗng trôi dạt đi về phương trời nào xa lắc. Rồi ba mẹ có tìm ra được xác tôi không? Rồi… Mà
thôi, một khi người ta mới mười bảy tuổi, người ta chẳng nên nghĩ quá nhiều, quá xa, cho dù là
nghĩ về chuyện “tương lai”, chuyện “hậu sự” ở ngay sau cái chết của mình.
Chẳng có ai đi ngang qua cầu bận tâm nhìn đến một con nhỏ đang chán đời là tôi. Thảng
hoặc nếu có, thì khoảng vài giây ít ỏi của một cái cau mày hay liếc mắt bàng quan không đủ để
lôi kéo người ta thắng xe lại, hỏi han tôi dù chỉ là một tí chút. Nhưng dù có được ai hỏi thì tôi
đây cũng không thiết. Tôi đâu phải muốn ra đây để mong cầu một sự chú ý, một lời can gián,
năn nỉ ỉ ôi, một thái độ ân cần phân tích thiệt hơn của ai đó không quen - tôi không “dọa chết”
mà là muốn chết thật. Tốt nhất xin đừng có ai làm phiền. Vào giây phút gần như là cuối cùng,
tôi bỗng quay lại, nhìn âu yếm chiếc xe đạp thân yêu - đã gắn bó với tôi suốt ba năm trung học
phổ thông, buồn vui có đủ. Nó đang dựng hiền lành ở gần đó, vì chân chống hơi choãi nên tôi
đã cho tựa nhẹ vào lan can của cầu.
Chiếc xe đạp “đầm” khá cũ, là tài sản được mẹ “chuyển giao” lúc tôi được tuyển thẳng vào
cấp ba theo qui chế xét tuyển ưu tiên. Vì khá cũ nên nó lắm tật, nhiều bệnh: nào hay dễ “tuột
con chó”, hay sút sên, hay “cắn” lai quần, hay cạ cạc-te, nào hay lủng yên để thấm nước mưa
làm tôi ướt quần mỗi khi ngồi lên, hay bể ruột vì cứ thích cán đinh, hay lỏng tay lái… Nhưng bù
lại, nó có ưu điểm là vừa tầm vóc tôi, đạp nhẹ, chạy êm và nhanh. Dù ưu hay khuyết gì nó cũng
đã giúp cho tôi đi đi về về ngày hai bận, trong suốt chín tháng nhân ba năm - xấp xỉ bằng tám
trăm mười ngày vừa qua. Nó không có lỗi gì trong chuyện chở tôi đi thi Đại học bị rớt, càng
chẳng có lỗi gì vì đã nhiệt tình chở tôi tới đây tự tử… Bây giờ, nếu tôi nhảy xuống sông, chiếc
xe sẽ buộc phải ở lại, và chờ ở đó cho tới khi có một kẻ trộm ơ hờ bỗng phát hiện ra, dắt đi. Kẻ
trộm nào đó không dưng vớ được vận may, “trúng số” nguyên chiếc xe đạp dựng sẵn trên lề
cầu mà không cần biết của ai(?). Vậy nhưng, đâu chỉ là chuyện “của đau con xót”, mà còn là
những kỷ niệm với một món đồ đã từng gắn bó cùng tôi qua rất nhiều năm tháng.
Ùa về tràn ngập cả tâm trí tôi là ký ức của thuở lên bảy, lên tám, khi tôi mới lần đầu tập đạp
xe. Lúc đó, do nhỏ con, chân còn ngắn không thể thượng lên yên nên tôi đã chọn cách ngồi gá
nghiêng trên sườn. Nhưng sườn xe quá thấp khiến chân tôi lại thành ra dư, đạp xe khuỳnh
khoàng đầu gối giống như mấy con khỉ đang làm xiếc với dáng ngồi thậm tệ xấu, nhưng tôi
mặc kệ. Cũng chẳng cần bận tâm, vì bọn trẻ con ở xóm đứa nào cũng y một kiểu như thế!
Lớn hơn một chút, khi đã leo ngồi được trên yên, dù chân tôi vẫn hổng phải đạp theo lối
nhắp nhắp hai pê-đan, mông thì ẹo ẹo, tha hồ lắc lia, nhưng tự tôi vẫn thấy vô cùng hãnh diện
(ôi chao, ngỡ như mình đang lớn hẳn ra). Chính trong một lần nhắp nhắp, lắc lắc và ẹo ẹo, lơ là
không thèm nhìn ra phía trước đúng theo “mô-đen của người lớn” đó, tôi đã lao thẳng chiếc xe
vô một đống gỗ. Tất nhiên là té, té quay cu lơ. Đau, đau thấu trời thấu đất. Kỷ niệm in hình
thành hàng đống vết sẹo ngắn dài, lớn nhỏ, nông sâu đủ cỡ – ở nơi đôi cùi chỏ của cả hai tay, và
trên hai đầu gối – chính là kết quả tạo hình từ những vết thương chỉ chịu lành hẳn miệng và lên
da non sau suốt một quá trình dài tới hơn hai tháng. Rất may chiếc xe chỉ bị xây xát nhẹ, và ba
đã “khuyến mãi” thêm cho tôi một trận đòn ê ẩm cả mông ngay buổi chiều đi làm về vừa được
biết tin - dành cho cái tội “liều lĩnh” khi dám làm một việc quá sức (ba lập luận: “bây giờ chỉ là
té vô đống gỗ, lỡ không may con húc phải một đống… gì to lớn và nham nhúa hơn, thì có ai biết
đâu mà đỡ!”). Lúc đó, tôi đã cố cắn răng chịu đựng cùng lúc nhiều thứ đau, lòng tự nhủ nếu ba
thương mình kiểu này thì thà đừng thương có lẽ khỏe hơn. Tôi đã chỉ ước ao sao cho chân mau
chóng dài ra, để mỗi khi leo lên xe sẽ tha hồ đạp thẳng tưng, không còn phải “nhắp nhứ” nữa.
Ôi, giấc mơ tuổi thơ tội nghiệp.
Mà thôi, phải quay trở lại “hiện trường” nơi cây cầu, để tôi kể tiếp câu chuyện của tôi cho
bạn. Phân tích tâm lý thấy dài dòng, bất tận, chứ còn trong thực tế, mọi sự diễn ra cũng chỉ mất
đâu khoảng hai, ba phút. Bây giờ tôi đang đứng lặng im bên chiếc xe, với bao suy nghĩ trong
lòng ngổn ngang. Lẽ ra tôi phải thông minh hơn, để xe ở nhà và đi bộ tới đây. Có như vậy trước
khi qua đời, tôi mới không thể gây ra thêm một lỗi lầm nghiêm trọng. Nay thì sự đã lỡ, tôi thấy
phân vân quá, không biết nên cư xử sao cho đúng. Vậy là, với tinh thần trách nhiệm và ý thức
cao – kiên quyết giữ gìn tài sản chung cho gia đình, tôi đành tạm gác “bước hai” trong kế hoạch
tự tử của mình để đạp xe về.
Trên đường, tiếp tục miên man suy nghĩ đủ thứ trong đầu, dù chẳng còn là đứa trẻ chân
không đủ dài để cứ phải nhắp nhứ mãi vẫn không đạp tới pê-đan, nhưng đúng là tôi đã không
hề mảy may bận tâm tới những gì đang xảy ra ngay trước mắt (đồng nghĩa: “xảy ra trên
đường”). Bởi thế cho nên, chỉ mất không đầy tám phút kể từ sau khi tôi đổ dốc (cầu), một chiếc
xe hơi cũ rích đã lao thẳng vào tôi. Hay chính xác và cụ thể hơn, tôi đã lao đầu thẳng vô chiếc
xe hơi cũ mèm và chạy nhanh như tên bắn đó. Cảm xúc của lần đụng độ này cũng không khác
nhiều so với cái lần ở tuổi ngắn chân - khi tôi táo tợn “so tài” cùng đống gỗ. Cũng “hoa cà hoa
cải” nở bung lên choáng váng, sau khi tung mình bay bổng trên không, và đau thấu tim gan,
đau đến nỗi không thể nào phân biệt rõ đã bị chấn thương nghiêm trọng ở đâu. Tôi đã rơi như
một trái mít rụng, rồi lăn đùng luôn ra đất - ở ngay bên cạnh chiếc xe đạp thân yêu (cũng nát
tan thân xác chẳng kém gì tôi) và ngất lịm đi.
Nói thật với bạn, chi tiết “chiếc xe hơi cũ rích” mà tôi đã liệt kê ra ở trên - thật ra là do sau
này, khi đã tỉnh hẳn lại tôi được nghe kể lại. Từ lời của mẹ, và mẹ thì cũng được nghe từ lời của
những người dân hai bên đường được (hay bị?) chứng kiến tai nạn của tôi lúc đó. Một bà mập
xởi lởi và hay chuyện đã miêu tả lại:
- Con nhỏ lao băng băng, tông thẳng vô ngay đầu, phía bên phải của một chiếc xe hơi cũ rích.
Chắc nó bị bệnh mộng du? (mẹ tôi đã gật “sái cổ” ở ngay chỗ này) Chiếc xe hơi sau đó hốt
hoảng bỏ chạy. Còn mọi người vì căng thẳng quá nên cũng không kịp liếc nhìn và nhớ tới biển
số xe…
Cũng còn may, mọi người sau cơn kinh hồn hoảng vía đã bừng tỉnh nhớ phải làm ơn làm
phước đưa giùm ngay tôi vô bệnh viện để cấp cứu. Tại phòng cấp cứu của Trung tâm Y tế Quận,
nhờ vào cái phù hiệu thêu trên ngực áo (lúc đó tôi mặc áo sơ-mi trắng đi học – thời của tôi, nữ
sinh cấp ba chưa phải mặc áo dài trắng như bây giờ), người ta đã tìm tới tận trường cấp ba
N.T.T để báo tin cho cô V. chủ nhiệm lớp 12A7 của tôi biết, và cô điếng người, mau mắn báo
ngay lại cho gia đình của học trò.
Khi ba chở mẹ vô được tới phòng cấp cứu để hỏi han thì tôi đã qua cơn nguy kịch. Bác sĩ cho
hay tôi chỉ bị xây xát, bầm dập chủ yếu ở các phần mềm, và bị choáng, sốc phản vệ do va đập
mạnh. Ba mẹ đã giấu ông bác sĩ tận tâm, giấu cô V. - cô giáo chủ nhiệm của tôi, đồng thời giấu
rất nhiều người khác về lá “thư tuyệt mạng” mà tôi đã để lại ở nhà, trên bàn xa-lông - trước khi
đi ra đường. Cả ba lẫn mẹ đều đinh ninh tôi đã chọn “phương án” tự tử là lao thẳng đầu vô xe
hơi. Mệt và vẫn còn đau, nên tôi cũng chẳng cần thanh minh. Khác về tình huống, nhưng trong
bản chất thì mục đích của tôi cũng có gì khác đâu. Rõ ràng là tôi đã muốn chấm dứt cho xong
cuộc đời của mình.
Chưa biết nên buồn hay nên vui sau cú tự tử không thành công, chỉ biết là tôi vẫn còn phải
sống tiếp. Sống để hiểu, sau tuổi mười bảy tươi hồng có cả thất vọng đớn đau - lẫn với đôi
mầm hy vọng le lói, sẽ còn những niềm vui, nỗi khổ đau, điều hạnh phúc và sự sung sướng nào?
Chỉ một điều mà tôi dám tin chắc: từ nay, cho dù giận tới đâu thì mẹ cũng sẽ không bao giờ
“dám” gọi tôi nặng nề là “đồ con hoang đáng chết” nữa!
Nào ai biết được chữ ngờ
Kinh nghiệm cá nhân của tôi đúc kết được qua suốt mười bảy năm: tiếp theo một nỗi buồn
sẽ là một niềm vui. Cũng chưa biết niềm vui gì, chỉ thấy sau khi xuất viện về nhà, ba mẹ rõ ràng
đã cư xử với tôi vô cùng gượng nhẹ.
Cả ba lẫn mẹ đều tránh rầy la, không nói nặng, cũng không dằn hắt, nhắc nhở, chẳng hề nói
tới nói lui về chuyện đã qua, kể cả cái việc tày đình tôi đã dám lao đầu vô xe hơi “tự tử vì thi
rớt”. Ngay cả thằng em trai ngỗ ngược, thích châm chọc và xiên xỏ tôi cũng tỏ ra rất dễ thương,
rất chi ư một vừa hai phải. Nó rất ân cần và nhỏ nhẹ chăm sóc bà chị gái thân yêu – chính là tôi
– giống như chăm sóc một vật thể làm bằng pha-lê mỏng manh dễ vỡ. Nỗi buồn trong tôi bỗng
như nhẹ gần nửa gánh. Tôi lại thấy rằng mình đáng sống. Phải sống, để tập trung ôn luyện, thi
lại năm sau cho tốt. Nhưng trước hết, phải bình tĩnh hơn, định hướng rõ ràng xem có thật là tôi
chỉ thích chuyên sâu ngành Vật tư của trường Đại học Kinh tế? Hay tôi chỉ muốn thi vô để
chiều ý mẹ? Câu hỏi này - hóa ra muốn trả lời cho êm cũng không đơn giản. Dường như tôi đã
không tự hiểu hết bản thân, và chưa lượng cho thấu đáo những khả năng của mình.
Một tháng “hậu của hậu – thi – rớt” đã trôi qua trong lưỡng lự êm đềm, trong chăm sóc dịu
dàng của mẹ, ba, của đứa em trai, tôi vẫn tiếp tục dùng dằng, ấp úng, chưa thể đưa ra quyết
định sau cùng. Cho tới một buổi tối, vào lúc cả gia đình tôi đang quây quần xem chương trình
“bông hoa nhỏ” với bộ phim hoạt hình nổi tiếng của Liên xô Hãy đợi đấy (có thỏ và chó sói - na
ná như Mèo Tom và Chuột Jerry của Hãng phim Waltz Disney). Ngay lúc bộ phim vừa hết, nhạc
hiệu chương trình thời sự nổi lên thì ba tôi bỗng điều chỉnh âm thanh ti-vi cho nhỏ xuống,
nháy mắt ra hiệu với thằng em tôi (thằng này hiểu ý ba vội vui sướng gật, chuồn nhanh ra cửa
đi chơi). Ba nhìn thẳng tôi, đĩnh đạc mở lời:
- Mi à, đây là câu chuyện có liên quan tới một người, vốn là em bà con cô cậu ruột với ba.
Trước đây, vợ chồng chú ấy sống ở miệt Châu Đốc, An Giang…
Tôi nhanh nhảu đáp ngay:
- Dạ, con biết. Chú Sáu Hưng.
Ba tôi gật, “Đúng”. Và hỏi tiếp:
- Vậy con còn nhớ bé Lan, đứa con gái duy nhứt của hai vợ chồng chú ấy không?
Ối trời! Chẳng lẽ ba cố tình quên tôi đã không chỉ một lần cặp kè thân thiết với con nhỏ như
hình với bóng, đã từng “ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu”, từng xem chung chỉ một cuốn sách với
nó (đó là cuốn Bông hồng vàng của Pau-tốp-xki mà cả Lan lẫn tôi đều rất thích)… Còn nhớ
những lần Lan theo ba má lên nhà tôi chơi, chẳng cần chứng minh thì mọi người vẫn thấy hai
chị em tôi đã “quấn chặt lấy nhau như sam”, rất – rất tâm đầu ý hợp ra sao.
*
Rồi một lần khác, vào dịp nghỉ hè, tôi đã theo chú Sáu về tận Châu Đốc. Ở lại trong ngôi nhà
bè tiện nghi nổi - trên - mặt - nước của gia đình chú suốt ba ngày dài, “lênh đênh” đúng nghĩa.
Tôi đã cùng với Lan bằm rau muống, trộn cám, vò viên thức ăn để nguội, phơi ráo, rồi hăm hở
mở nắp bè thả xuống cho cá ăn. Nằm trên sàn gỗ, tôi im nghe sóng vỗ mạn bè ì oạp, hưởng lấy
làn gió sông trong lành, mát rượi, nghe Lan rù rì kể chuyện bằng một giọng êm ả, yêu thương.
Cá tra, cá lóc, nhiều nhất là cá ba-sa… mỗi con một tánh ý riêng. Lan đã “thuộc nằm lòng” hết
cả bọn chúng qua suốt một thời gian dài cùng ba má chăm sóc, dưỡng nuôi - thường từ chín
tới mười hai tháng.
Lan nhỏ hơn tôi hai tuổi. Tóc dài, da trắng xanh, dáng người thanh mảnh. Hơi yếu ớt nếu
đem so với vẻ bề ngoài của nhiều thiếu nữ ở vùng ngã ba sông – nhưng vẫn rất giỏi giang, dịu
dàng, đằm thắm. Nói năng thì nhỏ nhẹ, từ tốn, nụ cười với má lúm đồng tiền tươi rói như hoa
chính là thứ “tài sản” đặc quyền khiến những ai đã gặp cô bé một lần sẽ không bao giờ có thể
quên…
- Nhưng, tại sao bỗng dưng ba lại hỏi con về Lan? - Tôi ngạc nhiên.
Câu trả lời của ba đã khiến tôi lặng run hết cả người, tê tái:
- Lan nó… mất rồi.
- Trời đất… Em ấy… mất bao giờ vậy ba? Vì sao mà… mất?
- Tháng trước, con à. (ba thở dài) Con cũng biết nó bị bệnh tim. Bệnh trở nên quá nặng, nó
đã không qua khỏi.
Đúng vào lúc tôi mải mê muộn phiền, loay hoay bế tắc trong nỗi thất vọng, chán chường,
đau khổ của riêng tôi - thì vợ chồng chú Sáu Hưng cũng đang đau nỗi đau tận cùng của những
bậc mẹ, cha vừa mất đi đứa con gái ngoan hiền, xinh đẹp, giỏi giang duy nhất. Có những chứng
bệnh mà ngành y - cho dù có các bác sĩ giỏi giang, có những máy móc hiện đại tới mấy cũng
đành phải bó tay, ngả nón chào thua. Hết cách. Chú Sáu và vợ buồn tới nỗi đã kiếm mối quen
sang luôn bè cá nơi ngã ba sông đang ăn nên làm ra, kèm theo tất cả những món đồ và các tiện
nghi trong căn nhà bè “trôi nổi”, rồi chuyển luôn về thành phố sống (có sự giúp đỡ rất ân cần
của ba mẹ tôi), đoạn tuyệt với khoảng đời quá khứ, đoạn tuyệt những kỷ niệm buồn gợi nhớ
tới Lan, đứa con thân yêu sẽ không bao giờ còn có thể tìm lại được nữa…
Nghe lời kể của ba nước mắt tôi cứ chảy ra giàn giụa, vừa quá thương Lan, thương cả chú
thím Sáu, lẫn thương cho ba mẹ tôi. Trời đất ạ, nếu như hơn một tháng trước đây tôi tự tử
“thành công”, chưa biết hai đấng sinh thành ra tôi sẽ còn phải buồn đau, thương tiếc tôi tới tận
cỡ nào?
Thời điểm diễn ra câu chuyện bi thảm, ba mẹ đã giấu - bởi không muốn làm cho tôi thêm
phần rối trí. Bây giờ, thấy tôi có vẻ nguôi ngoai và đã lấy lại được bình tĩnh, hai người mới
quyết định kể. Nhưng tôi bỗng có một linh cảm kỳ lạ rằng chuyện tới đó vẫn chưa phải là hết.
Còn có một chút gì vướng vít, lấn cấn, và hình như cả ba lẫn mẹ đều đang cố tìm cách nào suôn
sẻ và dễ chịu nhất, để “lôi” tôi cùng nhập cuộc.
Nghĩ vậy nên tôi bèn nói nước đôi:
- Con biết, nếu chú thím Sáu thương yêu em Lan tới đâu, thì ba mẹ cũng thương yêu con tới
đó…
Ba có vẻ hơi lúng túng, không nhìn tôi, nói ngoặt hẳn sang ý khác:
- Trong số những anh em, bà con bên ngoại của ba, tức là bên bà nội của con, không hiểu sao
ba thấy hợp tánh tình và thương yêu chú Sáu con nhứt. Có thể là do… một mối giao cảm khác
thường nào đó, bởi vì ngày xưa, bà nội con cũng thương nhứt ông Năm (mà ba kêu bằng cậu),
chính là người đã sanh thành ra chú Sáu.
Mẹ tiếp lời ba, giọng nghe sâu lắng:
- Tội nghiệp cô Minh lắm, Mi ạ. Những ngày tháng đau khổ này, đối với cô ấy thật nặng nề,
ngỡ như không thể nào chịu đựng nổi. Mẹ cũng là một người mẹ, nên mẹ rất hiểu nỗi đau mất
con của cô.
Cũng quên chưa giải thích với bạn, thím Sáu, tức vợ của chú Sáu Hưng tên là Minh. Chỉ vì lúc
nhỏ, tôi không quen cách gọi bằng “thím” nên đã gọi đại là “cô Minh”, thím cũng vui vẻ xưng
“cô Minh” lại với tôi rất ư là vô tư, thoải mái. Riết rồi quen, lớn lên tôi không tài nào sửa được.
Người lớn cũng cười xòa, “Thôi kệ, muốn kêu sao cho dễ thì kêu. Miễn biết nhau có bà con ruột
rà là được”.
Rốt cùng tôi mới “té ngửa”, hóa ra ba mẹ đã âm thầm bàn bạc với nhau suốt hơn một tuần lễ
nay, thậm chí có cả hỏi han ý kiến của thằng Mẫn, em trai tôi. Và tôi, nhân vật chính của câu
chuyện, bỗng trở thành người biết chuyện sau chót. Ba mẹ muốn tôi tạm một thời gian trở
thành con nuôi của cô chú Sáu. Qua bên nhà cô chú sống, trước là tôi sẽ an ủi, động viên, giúp
cho hai người vơi bớt phần nào nỗi đau thương, buồn khổ sau cái chết của em Lan; sau rồi cả
hai sẽ giúp ngược lại tôi tìm ra sự thanh thản, tĩnh tại trong tâm hồn; để tôi có thể đưa ra một
quyết định sáng suốt cho tương lai - sao cho phù hợp với khả năng và ý nguyện riêng tư của tôi
nhất… Nghe đã thấy vô cùng hợp lý, nên tôi không thể không gật đầu.
Thật tình mà nói, tôi đã không hề suy nghĩ sâu sắc, thấu đáo tất cả mọi lẽ giống như ba mẹ.
Đơn giản vì tôi đang thấy chán, đang muốn tìm một điều gì đó giúp “xáo trộn”, làm mới mẻ
hơn cho cuộc sống. Thì đây, chuyện không ngờ nhất xảy ra: thay đổi ngay chỗ ở. Có thể coi như
đó chính là một niềm vui, niềm - hân - hoan - tự - tới sau một cơn buồn dài u uất. Lại thêm một
lý do khá “an toàn” để tôi yên tâm: nhà của cô chú Sáu (hiện nay) cũng không xa nhà tôi bao
nhiêu, nên tôi rất dễ chạy đi chạy lại những khi nào thấy nhớ, muốn về thăm gia đình…
Vậy là tôi gói ghém hết những đồ đạc, áo quần của mình, cộng thêm vài ba thứ lặt vặt, linh
tinh mà một cô gái mười bảy tuổi thấy cần, bỏ gọn hết vô trong các ngăn của một cái túi xách
lớn. Đã có thật nhiều những lời dặn dò, khuyên bảo của mẹ, ba, và không ít những bịn rịn, luyến
lưu của thằng em tôi vốn bình thường ngỗ ngược.
Hôm chia ly, mọi người đứng nơi thềm cửa, vẫy tay chào tôi vô cùng thân ái. Tất cả đều cười
tươi tắn, rạng rỡ, kể cả mẹ, nhưng tôi đinh ninh là đôi mắt mẹ đang long lanh, đong đầy những
giọt nước. Vợ chồng chú Sáu cưỡi trên chiếc honda “đam” màu xanh, cô Minh ngồi sau ôm chặt
lấy cái túi to đựng những “tài sản” quí giá nhất của tôi. Cả hai “kè” theo tôi chạy chiếc xe đạp
“đầm” vừa mới được sửa sang. Quên chưa kể cho bạn, sau vụ tai nạn xe –đạp – mà – dám –tông
– vô – xe – hơi, ba mẹ tôi cũng tốn bộn tiền để thay hàng loạt những món phụ tùng bị hư hỏng
và cho sơn phết lại, nên bây giờ trông chiếc xe rất “bảnh bao”, sáng sủa hẳn lên, mới gần như
xe vừa xuất xưởng.
Tự nhiên, trong cái không khí tiễn đưa có phần bịn rịn, tôi bỗng cảm giác như đang dời đi
sống ở một nơi nào đó thật xa, xa lắc. Dường như rất lâu tôi mới có thể gặp lại mẹ, ba, thằng
Mẫn... Vậy là nước mắt tôi cứ ứa ra, lấm luốc tèm lem trên mặt giữa buổi chiều chạng vạng.
Cũng may vì trời cứ sẩm tối dần nên cô chú Sáu không trông thấy. Nếu không, lỡ bị hỏi han thì
tôi cũng không biết đường đâu để mà giải thích…
*
Ngôi nhà của cô chú Sáu rộng khoảng hơn sáu chục mét vuông: bốn mét rộng, nhân với
mười lăm phẩy ba mét dài. Có một lầu, được chia sẵn thành hai phòng. Một phòng là phòng
ngủ của hai vợ chồng cô chú, phòng kia dành riêng cho tôi. Nhà nằm ở mặt tiền của một con
đường mà người, xe qua lại chỉ đông ở mức vừa phải, nên cũng không tới nỗi quá ồn ào. (Dù
sao, tôi thấy cần phải giải thích thêm: vào thời đó, việc bán buôn, kinh doanh chưa phát triển
sầm uất và cạnh tranh khốc liệt như thời nay, cho nên những ngôi nhà mặt tiền cũng không đắt
giá tới mức người “vừa ở dưới quê lên” như vợ chồng cô chú tôi không thể nào mua nổi).
Chú Sáu đã xin vô làm cán bộ kỹ thuật trong một công ty xuất nhập khẩu thủy, hải sản đông
lạnh, do có được mối quen biết sẵn từ hồi còn nuôi cá bè (thật ra, chú tôi là kỹ sư Nông
nghiệp). Còn cô Minh kêu tới vài ông thợ, nhờ lên bức vách ngăn ngang một nửa phòng khách,
mở một “tiệm” tạp hóa nhỏ để buôn bán linh tinh ở phía trước. Vừa giải khuây, vừa có chút
đồng ra đồng vô đắp đổi thêm tiền chợ. Cũng là một cách hay để cô sẽ tiếp cận nhanh với nhịp
sống sôi nổi của người dân thành phố. Nhưng thôi, khoan nói tới cái tiệm tạp hóa nho nhỏ của
cô Minh. Để tôi kể cho bạn nghe về căn phòng riêng – của – một – mình – tôi cái đã.
Trời ạ. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới nay, đây là lần đầu tiên tôi có riêng cả một căn phòng.
Phòng rộng hơn mười tám mét vuông, có đầy đủ các tiện nghi: giường, tủ, bàn, ghế… Một cửa
sổ rộng mở tung hai cánh, ngó thẳng ra sân sau, những chấn song xếp hàng thẳng đều tăm tắp,
mành trúc lưa thưa hai màu trắng, đỏ. Cửa ra vào với ổ khóa riêng hẳn hoi, một xâu những hai
chìa. Tôi ngỡ mình như đã biến thành một cô tiểu thư rất chi là đài các.
Nhà của ba mẹ tôi thì khác. Được xây theo kiểu “truyền thống”, rập khuôn bao nhiêu những
căn hộ tập thể “hình ống” mọc lên nhan nhản khắp trong thành phố. Nghĩa là: tất cả đều thông
thống từ trước ra sau. Cứ khoảng hai, ba mét chiều sâu, lại thấy xây lên một bức tường - cao lút
trần với một hàng bông gió lửng lơ, mặc nhiên coi như ranh giới của các “phòng”. Rồi tới bếp,
liền kề với công trình phụ. Phần không gian dành riêng cho tôi được “hiểu ngầm” là một cái
giường đơn, kê sát với giường ...
 





