THUYẾT TRÌNH SÁCH
Bên sông Trà Lý

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 19h:33' 15-03-2024
Dung lượng: 736.8 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 19h:33' 15-03-2024
Dung lượng: 736.8 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Table of Contents
Chương 1: Làng Bùi
Chương 2: Bản cáo trạng
Chương 3: Lời một người làm chứng
Chương 4: Bản cung của một bị cáo
Chương 5: Xét hỏi bị cáo Nguyễn Đình Hà
Chương 6: Bị cáo cao tuổi nhất
Chương 7: Những lá đơn kêu cứu
Chương 8: Kẻ tham nhũng ái tình
Chương 9: Nỗi đau người lính
Chương 10: Chân dung người bị hại
Chương 11: Người bị khai trừ
Chương 12: Kẻ ngoan cố số 1
Chương 13: Kẻ ngoan cố số 2
Chương 14: Kẻ phản bội
Chương 15: Đêm thứ 100
Chương 16: Phiên tòa - ngày thứ bảy
Chương 17: Sự kiện làng Bùi
Chương 18: Tuyên án
Bùi Thanh Minh
BÊN SÔNG TRÀ LÝ
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
CHƯƠNG MỘT: LÀNG BÙI
Định dừng bước ở mỏm đê nơi cửa con sông Trà Lý đổ ra biển Đông, thẫn thờ nhìn ra khơi xa.
Chiều đầu đông, gió bấc hun hút se se lạnh. Nước triều đã rút ra khỏi bờ dồn lại ngoài khơi xa
như con đê màu nâu nhạt, để lại bãi cồn mênh mông vắng lặng. Thưa thớt vài con chim mố
đứng côi cút trên cồn cố kiếm những miếng mồi cuối cùng trong ngày. ở phía mù khơi, trên
sóng nước bập bùng, dưới bầu trời ảm đạm, một cánh chim đơn lẻ, thoi thóp, chập chờn ngược
gió cố bay về hướng Đồ Sơn. Nắng chiều đông ngẩn ngơ hắt vào nền trời làm những vệt mây
chiều như rớm máu. Gần chân bờ, rừng sú vẹt trải một vệt xanh mờ âm u.
Định ngồi xuống vạt cỏ nhàu nhàu ven đê, dõi ánh mắt lang thang theo cánh chim trời một lúc,
rồi mệt mỏi cúi xuống miên man nhìn dòng sông Trà Lý một màu xám nhạt. Cảm giác dưới đáy
nước thăm thẳm, mông lung như chứa một thế giới huyền bí ghê rợn ở trong lòng. Nơi cửa
sông, duy nhất chỉ còn chiếc thuyền máy trơ trọi neo giữa dòng sông hoang vắng. Định còn
nhớ, hồi nhỏ mỗi khi rủ bạn bè ra sông Trà Lý tắm, ông nội thường đe: "Sóng cửa Trà, ma cửa
Hộ đấy con ạ". Vậy mà suốt ngày của cái thời thơ ấu ấy, Định đã bơi lội, lặn ngụp, mò cua, bắt
cá ở cửa sông này, Định chả thấy ngọn sóng nào đáng sợ cả. Ngược lại, dòng Trà Lý gắn bó với
Định như thể Định là đứa con do sông sinh ra. Đến nỗi, sau này lớn lên, mỗi lần đi xa trở về,
Định lại ra cửa sông để tắm mình trong kỷ niệm. Nếu là mùa hè, Định cởi bỏ quần áo như để
trút hết phiền muộn ở trên bờ, rồi lao xuống dòng sông, cưỡi lên đầu sóng và chui vào lòng
nước. Dòng nước mằn mặn mát rượi ve vuốt mơn trớn, nhấm nhứt da thịt Định tạo nên một
khoái cảm vô bờ. Nước nhấc bổng Định lên chơi vơi, rồi lại nhận chìm ôm gọn vào lòng đến
thót bụng, tắc thở. Định như đứa trẻ sà vào lòng mẹ nô đùa làm nũng. Vậy mà hôm nay, khi mà
Định rất cần đến sự an ủi, vuốt ve của nó, thì dòng sông lại như một kẻ bội tình với dòng nước
hững hờ, ghẻ lạnh. Định buồn quá, nỗi buồn ngẩn ngơ, cay đắng. Trước mặt Định là dòng Trà Lý
uốn quanh những xóm làng rồi xoè những nhánh của nó ra biển Đông như chiếc quạt. Sau lưng
Định, dưới chân đê là làng Bùi yêu thương của anh đang giấu mình dưới rừng tre xanh nhạt.
Định sinh ra ở cái làng nhỏ bé này. Dòng Trà Lý đã tắm mát cả cuộc đời anh. Đất làng Bùi đã
nuôi anh lớn lên, bồi đắp tâm hồn anh bằng những huyền thoại lịch sử và bao kỷ niệm ngọt
ngào cũng như cay đắng của nó.
Làng Bùi của Định, xưa còn gọi là tổng Nam Sơn. Sau cải cách ruộng đất (năm 1955) nó được
nhập vào làng bên để thành xã Minh Hải. Giữa làng có ngôi đình để thờ Thành hoàng. Sân đình
còn có cây bàng cổ thụ.
Cây bàng cổ thụ làng Bùi có tuổi thọ 101 năm, thân bàng sù sì, phần gốc căng lên những thớ
như gốc đa, cành bàng giống như cánh tay gân guốc vươn lên xoè bàn tay che chở cho làng.
Đứng mãi cuối huyện, Định nhìn về còn thấy ngọn bàng. Ông nội bảo cây bàng này cũng năm
lần bảy lượt chết đi, sống lại mới có dáng chọc trời, vươn lên như che chở một vùng đất.
Theo lời ông kể lại, thì ngày Tổng khởi nghĩa hồi tháng 8 năm 1945, chi bộ Đảng tổng Nam Sơn
đã treo lá cờ đỏ búa liềm lên ngọn bàng. Cũng tại gốc bàng này, trong ngôi đình thờ Thành
hoàng, chi bộ Đảng đã ra nghị quyết rào làng kháng chiến chống Pháp. Đã có biết bao nhiêu
quả moóc chi ê của giặc Pháp bắn vào làng Bùi, vào ngọn bàng. Có trận, ngọn bàng bị đạn pháo
chẻ nát, cành lá nát tướp, tả tơi. Cũng như dân làng Bùi, chỉ sau trận chống càn ít hôm, cành lá
của nó lại xanh mởn, chồi non lại nhú ra, như những búp đa nhọn hoắt, sự sống lại hồi sinh.
Trên ngọn bàng lại phơi phới lá cờ đỏ có hình búa liềm. Đến cải cách ruộng đất, dân làng Bùi đã
tập trung tại đây đấu tố tên Nghị Lật - một tên địa chủ gian ác khét tiếng. Nó đẽo xương, róc
thịt không trừ một ai, kể cả họ hàng, làng xóm. Lần đầu tiên dân làng Bùi được nói thẳng, nói
thật, nói hết, nói cho hả giận để vạch mặt kẻ hút máu dân. Rồi lại cũng ở gốc bàng này, Định
chứng kiến hàng trăm thanh niên lần lượt đứng lên làm lễ tuyên thệ để lên đường vào Nam
chiến đấu. Những người như Định hôm nay - sau chiến thắng chống Mỹ oanh liệt may mắn trở
về, từ xa nhìn thấy ngọn bàng, trong lòng đã dâng lên niềm tự hào. Còn những người nằm lại
chiến trường, họ cũng trở về đúng dưới gốc bàng, nhưng lại bằng một lễ truy điệu.
Như thế, cây bàng đã chứng kiến biết bao biến cố của làng. Nó sừng sững, hiên ngang như khí
phách của dân làng Bùi trước bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, nó thâm trầm khắc khổ, nhẫn
nại như bản tính chịu thương, chịu khó của dân làng Bùi. Nó hút nhựa từ đất làng Bùi, nó nhận
ánh sáng của mặt trời, nó uống nước dòng Trà Lý để toả bóng mát cho ngôi đình thờ Thành
hoàng. Vậy mà bây giờ...
Định lặng lẽ đứng dậy, lòng trĩu nặng một cảm giác tê buốt. Hai ngày nữa, chỉ hai ngày nữa thôi
Định phải trở về trại tạm giam để chuẩn bị ra hầu toà. Hai ngày nữa, Định phải xa dòng Trà Lý,
xa làng Bùi. Ôi, cái làng Bùi khốn khó mà dạn dày gan góc của Định kia - dải đất hình long giáng,
đầu rồng phục bên bờ sông Trà Lý. Rốn rồng chính là đình thờ Thành hoàng. ở đó có hai cái ao
cắt đôi bằng một dải đất hẹp. Dải đất hình tháp bút, hai cái ao hình cái nghiên. Dân làng Bùi
bảo đó là nghiên và bút, biểu trưng cho vùng đất văn hiến. Đuôi rồng phất lên nơi cuối làng,
vuốt lại như hình chiếc kiếm. Tại đây có ngôi đền Bà. Dân làng Bùi coi đây là biểu trưng của
vùng đất thượng võ.
Làng Bùi của Định giành "đầu rồng" để chôn cất tổ tiên mình cho phần âm được ổn, mà phần
đời được thịnh. Giữa nghĩa địa, khuyết vào bằng năm cái nong là một cái chuôm nhỏ mà Định
thấy không bao giờ cạn nước. Hồi còn nhỏ, về mùa khô, cá tôm ở trên ruộng trút xuống, Định
thường rủ anh Hải ra mò lặn bắt cá ở cái chuôm này. Ban ngày trời nắng, Định đi móc cua, nhìn
vào chuôm thấy ánh lên như sắc cầu vồng. Ban đêm, đi đơm đó, thỉnh thoảng nhìn về đó lại
thấy có ánh lân tinh bốc lên như lửa. Tát cạn nước, đào hai thép mai thấy đất có những vân thớ
vàng vàng, tím tím. Ông nội bảo đó chính là hàm rồng, và cũng là địa huyệt có thế năng của
dòng khí mạnh. Cũng chính vì thế mà các dòng họ mang cốt của ông cha mình táng ở hàm rồng.
Họ Trần mang táng tổ mình ở phía tây nam. Họ Nguyễn của Định táng tổ của mình ở bờ phía
đông bắc. Sau này họ Nguyễn có nhiều người làm cán bộ thoát ly mang tiền về xây mộ tổ. Tiền
góp được bao nhiêu, trưởng tộc phải lo thiết kế xây dựng lớn bấy nhiêu. Vì vậy, mộ tổ họ
Nguyễn bấy giờ như ngôi chùa nhỏ. Nhưng nếu tính giá trị ra tiền phải lớn hơn ngôi nhà mái
bằng. Họ Trần, con cháu hầu hết ở quê bức bách quá liền huy động cả họ gánh đất gần một
tháng đắp mộ tổ của mình lớn gần một trăm mét khối đất, quyết không thua kém họ Nguyễn.
Các họ khác cũng đua nhau xây cất mồ mả của mình, giàu thì xây lớn, nghèo thì xây nhỏ, tệ lắm
cũng xây bao một khoảnh. Nghĩa địa làng Bùi có hơn ba trăm ngôi mộ, Định đếm được 264
ngôi đã xây cất tử tế. Làng Bùi bây giờ thành hai làng Bùi. Đứng trên đê nhìn xuống, Định thấy
phần dương như một lùm cây, phần âm rực sáng những gạch, xi măng, rồng chầu, hổ phục...
Lớn thêm một chút nữa, một hôm Định hỏi ông nội: "Ông ơi sao người ta lại bảo là "sóng cửa
Trà, ma cửa Hộ?". Nội nghĩ ngợi một lúc rồi nói: "Cũng chỉ là truyền thuyết để lại... nhưng theo
nội có lẽ nguyên do là thế này...".
Làng Bùi có sáu dòng họ lớn. Họ Trần và họ Nguyễn đến đây lập nghiệp đầu tiên. Thời kỳ chống
quân Tống xâm lược, cụ Đồ họ Nguyễn đứng lên chiêu mộ binh sỹ phò nhà Lý đánh giặc. Trong
một trận giao chiến ở bờ sông Trà Lý, chẳng may thất bại. Một viên quan người họ Trần khai láo
với chủ tướng nhà Lý rằng cụ Đồ làm phản. Viên tướng sai người bắt một con gà trống cắt tiết để
lấy giò làm ứng. Viên quan họ Trần bí mật lấy một sợi tóc quấn ngón chân gà theo ý định và cho
nhúng nước sôi ba lần, nước lạnh ba lần. Khi dâng lên, chủ tướng nhà Lý xếch ngược đôi lông
mày đập tay xuống sập quát:
- Chân giò quặp cổ, quân phản chủ, bay đâu chém đầu!
Cụ Đồ bị dẫn về đình làng chém đầu, xác bỏ trôi sông Trà Lý. Bốn ngày sau, đầu lâu dạt vào cửa
sông, mắt mở trừng trừng, còn xác trôi ra biển Đông. Thành ra mộ tổ họ Nguyễn của Định bây
giờ chỉ có chiếc hộp sọ cụ Đồ.
Cụ Đồ bị xử oan, đêm đêm người ta thấy cụ Đồ ngồi trên chiếc thuyền nan nhỏ, đầu quấn khăn
trắng, mặc bộ đồ trắng cưỡi đầu sóng lượn lờ ở cửa sông. Rồi năm ấy tự dưng sóng ở ngoài biển
Đông dồn về cửa sông Trà lớn chưa từng, có cả sóng bạc đầu lừng lững dựng đứng như con cá
voi. Năm sau lại xuất hiện vòi rồng làm đắm hai chiếc thuyền, có thuyền vòi rồng hút bổng lên
trời rồi ném vào bờ vỡ nát. Đồn rằng cụ Đồ giận dữ. Thuyền bè không chiếc nào dám ra khơi nữa.
Họ Nguyễn và làng Bùi phải tổ chức làm lễ rửa oan cho cụ mới xong. Có lẽ vì vậy mà cùng với:
"ma ở cửa sông Diêm Hộ", là "sóng ở cửa Trà Lý" ra đời?
Họ Trần và họ Nguyễn có mối thù với nhau từ đó. Sau này trong kháng chiến chống thực dân
Pháp người làng Bùi cùng nhau theo Đảng giành chính quyền, rào làng kháng chiến... Thời
chống Mỹ cứu nước, già trẻ, gái trai thi đua "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", cùng nhau bắn máy
bay Mỹ, cùng nhau vì miền Nam ruột thịt..., thanh niên nam nữ hai họ yêu nhau lấy nhau. Thế là
mối thù xưa của hai dòng họ tự nhiên mất.
Sang thời cơ chế thị trường hai họ tuy không còn thù nhau, nhưng mỗi lần bầu bán các chức vụ
trong xã, lại ngấm ngầm đấu đá nhau ra trò để tranh giành quyền lực. Nếu họ Nguyễn có chức
vụ này, họ Trần phải có chức vụ kia. Hai khoá gần đây họ Trần giành gần hết các chức vụ quan
trọng. Trưởng tộc họ Trần là Trần Bao nắm chức chủ tịch xã, Phó ban tài chính, chủ nhiệm hợp
tác xã nông nghiệp, trưởng ban địa chính đều ở phía họ Trần. Cả xã có chín chi bộ, có đến bốn
"chi bộ họ Trần". Vì vậy Trần Bao thâu tóm mọi quyền hành. Các quyết định của ủy ban Nhân
dân xã Minh Hải thực ra đều là của Trần Bao.
* * *
Một bóng người nhập nhoạng từ trong làng đi ra, mái đầu nhấp nhô dưới bờ mương. Ai thế
nhỉ? Chiều đông đã muộn ai ra cửa sông gió rét làm gì? Lúc này Định chỉ muốn ngồi một mình,
không muốn ai quấy rầy. Nhưng nhận ra cái bóng người ấy mặc bộ đồ màu cỏ úa, Định liền
đứng dậy gọi:
- Linh, Linh ơi!
Linh sải từng bước nhanh nhẹn về phía tiếng gọi, từ dưới chân đê Linh vừa leo vừa ngẩng lên
nói:
- Ông bảo cháu, chỉ ra đây mới gặp được chú.
Linh ngồi xuống bên Định trên thảm cỏ, Định quàng cánh tay còn lại của mình qua vai Linh hỏi:
- Toà án họ hỏi cháu những gì?
- Cháu trình bày tất cả những gì cháu biết, chú ạ. Các chú ấy hỏi rất kỹ vụ hai họ Trần và
Nguyễn xung đột hồi Cố qua đời, và yêu cầu cháu viết ra giấy với tư cách của người làm chứng
- Ngừng một lát, Linh nhìn thẳng vào Định rồi hỏi - Thế, bao giờ chú trở lại trại tạm giam ạ?
Định trượt cánh tay khỏi vai Linh, mắt bỗng tối sầm. Anh buồn bã nhìn về phía nghĩa địa làng
Bùi. Hai ngôi mộ tổ họ Nguyễn và họ Trần sừng sững như hai đối thủ vẫn đang thách thức
nhau. Định cúi xuống như cố xua đi cảm giác nặng nề:
- Họ cho chú về hai ngày giỗ Cố...
Như vậy, có nghĩa là chú Định chỉ còn tự do đêm nay và ngày mai nữa thôi, rồi chú phải ra toà
đối mặt với pháp luật. Vậy mà Linh không thể ở lại cùng chú, cùng mọi người dự phiên toà rất
quan trọng của làng Bùi. Trước khi toà mở, phải trái, trắng đen còn lẫn lộn, liệu kết thúc phiên
toà mọi đúng sai có được định đoạt rõ ràng không? Linh thương chú Định quá, nhưng không
biết phải nói thế nào, đành lặng lẽ lấy thuốc lá rồi cả hai cùng châm hút.
Định quay sang Linh, an ủi:
- Cháu cứ yên tâm về đơn vị. Mọi việc ở nhà sẽ đâu vào đấy thôi. Chỉ có điều...
Cái điều Định lo đến thắt ruột, thắt tim khó nói thành lời lắm. Chỉ còn mười ngày nữa phiên toà
sơ thẩm sẽ mở xét xử vụ án gồm mười một bị cáo người làng Bùi, trong đó có Định, can tội gây
rối an ninh, phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa và của công dân, chống người thi hành công vụ,
đánh người gây thương tích... Nói theo cách nói của bô lão làng Bùi là tình thì ngay, mà lý lại
gian. Biết giải thích thế nào cho được. Pháp luật là pháp luật, cứ thẳng như kẻ chỉ, ai người ta
lại đi moi móc bảy tám đời, tìm con chi chi chọt chọt mà vận dụng, mà xét mà xử. Định lắc đầu
chép miệng:
- Phận chú thôi cũng đành vậy... chú cũng biết cả làng Bùi đang xôn xao bàn bạc, tìm cách giải
quyết phương tiện, tiền bạc để chuẩn bị lên tỉnh dự phiên toà. Cả làng ai cũng quan tâm và
quyết làm cho ra nhẽ... Cứu chú, cứu người thân của họ đã đành, nhưng chú nghĩ cái còn lớn
hơn là phải cứu làng Bùi, cứu cái tình thân ái đoàn kết, cứu tình làng nghĩa xóm, cứu đạo đức
luân lý vốn có của người dân làng Bùi, cháu ạ.
Trời đã gần tối, khói lam chiều từ các lùm tre trong làng lan toả. Ngoài khơi xa, chân trời phủ
một màu xám nhạt. Mặt sông Trà Lý sương đã giăng giăng. Nền trời sạch bong, vắng lặng. Cây
muỗm bên kia sông im lìm đen thẫm như chiếc nấm khổng lồ. Một đôi cò già thong thả từ
trong làng bay ra biển đáp xuống rừng sú vẹt để trú đêm. Dòng sông Trà Lý không tiếng sóng
vỗ bờ. Vậy mà trong lòng Định nỗi buồn lại trào dâng như sóng. Định kéo Linh đứng dậy:
- Tối rồi, về thôi, cháu.
Ngập ngừng được vài bước Linh nói:
- Hay là... chú thuê một luật sư giỏi?
Định không trả lời. Lát sau anh nói:
- Ngẫm lời Cố dạy mà thấm thía: Biết được cái khó là người có chí tự lập không làm phiền ai.
Chịu được cái đắng là người có tâm kiên nhẫn cố làm nên việc... Linh ạ, chú vẫn tin, lẽ phải
trước sau gì cũng được khẳng định.
CHƯƠNG HAI: BẢN CÁO TRẠNG
Phiên toà mở chậm mất chín ngày so với dự kiến, nghĩa là cuối tháng mười, nay đã là đầu
tháng mười một năm 1997, vì một lý do: Bị can Nguyễn Văn Định không nhất trí một số nội
dung trong bản cáo trạng của Viện Kiểm sát. Định là bị can số một, bị can quan trọng mang tội
danh nặng nhất của vụ án. Do đó Viện Kiểm sát phải điều chỉnh một số nội dung, và gặp gỡ bị
can để làm rõ. Chín ngày sau thủ tục mới hoàn tất.
Hội trường xét xử sơ thẩm có hai trăm ghế ngồi đã chật ních. Ngoài sân có đến hàng trăm
người, đàn ông, đàn bà, già trẻ, gái trai đứng tràn cả ra đường. Hội đồng xét xử phải bắc thêm
hai chiếc loa nén trên các cây ngoài cổng để nhân dân theo dõi.
Ngồi dưới hội trường nhìn lên là Quốc huy nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mang
màu đỏ. Trên ghế của Hội đồng xét xử, thẩm phán Đinh Tráng chủ toạ phiên toà trong bộ com
lê màu tím than trang trọng ngồi giữa, hai bên là thẩm phán Nguyễn Đức Hùng và hai hội thẩm
nhân dân Trần Văn Hội, Phạm Chí Nhân. Kiểm sát viên Hà Duy Độ ngồi sau chiếc bàn đặt chếch
bốn nhăm độ với bàn chủ toạ.
Khác với ngoài sân ồn lên vì những lời bàn tán, bên trong hội trường im phắc, tưởng như
không khí ngưng đọng, mọi người ngừng thở.
Sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết của phiên toà, chủ toạ Đinh Tráng nhìn lướt một lần nữa
xuống hội trường. Những mái đầu của các bị cáo gục xuống; khuôn mặt của những người bị hại
vênh vang, một số đang làm ra vẻ đăm chiêu suy nghĩ; hàng trăm ánh mắt đang chăm chú nhìn
lên. Đinh Tráng đang đại diện pháp luật để xử những người phạm tội. Nhưng bên cạnh đó - anh
hiểu, lại có một toà án khác - toà án lương tâm trong mỗi con người đang ngồi đây để xử phúc
thẩm. Phúc thẩm nhân cách, năng lực chính anh và Hội đồng xét xử. Bởi vậy, Đinh Tráng nghĩ, ở
phiên toà phức tạp này, để giữ cho được nhân cách người cầm cán cân công lý, ngoài cái tâm ra
rồi, nó còn đòi hỏi phương pháp đấu tranh khôn khéo, kiên quyết. Giọng Đinh Tráng sang sảng:
- Tiếp theo, xin mời ông kiểm sát viên trình bày bản cáo trạng.
Kiểm sát viên Hà Duy Độ người cao, da trắng, mũi dọc dừa cân đối với vầng trán dô và đôi
lưỡng quyền cao. Khuôn mặt anh toát lên vẻ thông minh. Khi trình bày đến phần chủ yếu của
cáo trạng, anh cố nhấn mạnh từng âm tiết cho giọng đanh và chắc, tạo ấn tượng mạnh cho
người nghe:
- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 14 giờ ngày 9 tháng 5 năm 1997, Nguyễn Văn Định cùng với Bùi
Xuân Đức, Lê Xuân Hạ vận động lôi kéo nhân dân làng Bùi gồm 143 người tập trung gây mất
trật tự ở Uỷ ban nhân dân huyện. Tại đây, Nguyễn Văn Định vu khống chủ tịch Uỷ ban nhân dân
xã Minh Hải là Trần Bao tham ô của công năm trăm triệu đồng, bán trái phép một nghìn bốn
trăm mét vuông đất, vu khống Trần Ngưỡng phó ban tài chính xã tham ô 451 triệu đồng, Trần
Thiệu trưởng ban địa chính xã bán đất trái phép, nhận hối lộ 257 triệu đồng và chiếm đoạt
chín suất đất thổ cư một nghìn sáu trăm mét vuông; Trần Chung chủ nhiệm hợp tác xã nông
nghiệp chủ trương thu quỹ trái phép, chiếm đoạt 250 tấn thóc và một trăm năm bảy triệu
đồng; Đào Xuân Ba cán bộ điện tự ý tăng giá điện, tham ô 142 triệu đồng. Tại đây Định nói xấu,
bôi nhọ cán bộ và chính quyền; xuyên tạc nội dung kết luận của đoàn thanh tra gây nghi ngờ
trong nhân dân đối với chính quyền. Định còn kích động nhân dân viết đơn thư tố cáo cán bộ,
vu khống Trần Bao nhận tiền hối lộ của chị Đỗ Thị Hoè, kích động chị Hoè viết đơn vu khống.
Vu khống Trần Ngưỡng cưỡng dâm Đào Thị Xuân. Định còn xúi dục chị Hoàng Thị Mai viết đơn
vu cáo Trần Bao chiếm đoạt nhà ở, lôi kéo Đức, Hạ, Hà, Ngọ... chống lại quy định của địa
phương...
Lật trang giấy Hà Duy Độ đọc tiếp:
- Vụ thứ hai: Ngày 29 và 30 tháng 5 năm 1997 Trần Hải được Nguyễn Văn Định sai đi vận động
lôi kéo Phạm Thị Luyến, Bùi Xuân Đức, Lê Xuân Hạ, Giang Văn Ngọ, Nguyễn Đình Hà, Phạm Thị
Na tụ tập tại nhà Định. Tại đây Định và Hải trực tiếp hướng dẫn họ làm đơn tố cáo sai sự thật
cán bộ Nhà nước. Hải viết hai lá đơn cho Phạm Thị Na và Giang Văn Ngọ. Định viết ba lá đơn
rồi sai Bùi Xuân Đức, Lê Xuân Hạ đi vận động đe doạ nhân dân ký vào đơn để gây sức ép với
chính quyền. Khi bị phát hiện, Định và hải tẩu tán tài liệu, cố tình quanh co giấu giếm.
- Vụ thứ ba - Hà Duy Độ ngước nhìn rồi đọc, tiếp - 15 giờ ngày 17 tháng 6 năm 1997, thực hiện
âm mưu lật đổ chính quyền của Nguyễn Văn Định và Trần Hải, Bùi Xuân Đức cùng Lê Xuân Hạ,
trực tiếp chỉ huy Giang Văn Ngọ, Nguyễn Đình Hà, Đào Thị Xuân, Phạm Thị Luyến và một số
phần tử xấu đã vận động lôi kéo, kích động hàng trăm người dân, mang hung khí như cuốc,
xẻng, gậy gộc, dao rựa... tụ tập lên Uỷ ban nhân dân xã Minh Hải bao vây, bức ép một số cán bộ
xã. Tại đây Định đã lớn tiếng vu khống, nhục mạ cán bộ Nhà nước, ép Chủ tịch xã từ chức. Khi
lực lượng an ninh đến bảo vệ, Định đã chỉ huy Bùi Xuân Đức, Lê Xuân Hạ và một số côn đồ đánh
trả lực lượng an ninh, đánh trọng thương chủ tịch xã và phó ban tài chính xã, phá phách trụ sở
Uỷ ban nhân dân xã gây thiệt hại nghiêm trọng. Đến 18 giờ cùng ngày, Định tổ chức cho Bùi
Xuân Đức, Lê Xuân Hạ và một số kẻ xấu phá phách nhà riêng của Trần Bao, Trần Ngưỡng, Trần
Thiệu và Trần Chung. Khi Trần Ngưỡng trốn ở trong nhà, Định đã chỉ huy Đào Thị Xuân dùng
dao xông vào đè Trần Ngưỡng ra cắt hạ bộ. Lợi dụng rối loạn Phạm Thị Na vào nhà chủ nhiệm
hợp tác xã Trần Chung cướp một chiếc quạt MD, Nguyễn Đình Hà cướp của gia đình Trần
Chung một đôi lợn 30kg, Hoàng Thị Mai đập phá bàn thờ liệt sĩ, cướp đi một bát nhang của gia
đình Trần Bao.
Hà Duy Độ trình bày khá cụ thể vụ thứ ba, vụ được coi là "sự kiện làng Bùi" đã làm xôn xao dư
luận cả tỉnh bấy lâu nay. Và cũng chính vì "sự kiện làng Bùi" này mới có phiên toà hôm nay.
Kết thúc phần trình bày ba vụ xảy ra ở xã Minh Hải, Hà Duy Độ ngừng đọc, nhìn xuống hàng
ghế người bị hại. Đó là Trần Bao, Trần Ngưỡng, Trần Thiệu, Trần Chung, Đào Xuân Ba và Đoàn
Kim Phượng. Độ bỗng chột dạ, trừ Đào Xuân Ba ra, còn lại những khuôn mặt người bị hại đều
có vẻ hả hê; mặt Đoàn Kim Phượng còn vênh như vỏ ngao. Đây là điều mà trong đời làm kiểm
sát viên luận tội, Hà Duy Độ ít khi gặp. Trở lại Trần Bao, nguyên là chủ tịch xã Minh Hải. Bao
ngồi hàng ghế đầu, khi bắt gặp ánh mắt của Hà Duy Độ, Bao hơi cúi xuống, miệng vội mím lại,
dường như Bao chợt nhận ra cách biểu cảm hớ hênh của mình. Hà Duy Độ hiểu, trong biên bản
của Hội đồng giám định Y khoa của bệnh viện viết: "Trần Bao bị vật cứng đánh làm gãy xương
quai xanh và xương sườn số 5, 6, 7; vật nhọn đánh vào đầu làm rách da đỉnh đầu dài bảy cen ti
mét, sâu một phảy năm cen ti mét làm chấn thương sọ não..". Như vậy có nghĩa là lúc này thần
kinh của Trần Bao không được chuẩn lắm, những biểu hiện ra bên ngoài có thể chưa phản ánh
đúng tâm trạng. Nhưng kìa, Trần Ngưỡng mới lạ chứ. Trong biên bản của Hội đồng giám định Y
khoa cũng ghi: "Trần Ngưỡng bị vật nhọn đâm vào cánh tay trái, xuyên qua phần mềm rộng ba
cen ti mét chảy nhiều máu. Đầu, cổ, sườn, đùi bị nhiều vết bầm tím. Dương vật bị cắt cụt một
phần ba..." Đáng lẽ trước đám đông, Ngưỡng phải xấu hổ bởi vết thương "đặc biệt" của mình, ít
ra cũng phải biết thân biết phận. Đằng này Ngưỡng ngồi ật ra ghế, ngẩng bộ mặt thâm sì cười
cười nói nói như người thắng trận.
Dẫu sao thì Độ cũng thấy tội cho những người bị hại. Hầu hết tài sản của họ đều bị thiệt hại
nghiêm trọng trong vụ ngày 17 tháng 6. Bút lục 157, công văn số 29CA của công an tỉnh báo
cáo về việc hư hại, mất mát tài sản mà Hà Duy Độ đã nghiên cứu khá tỷ mỷ: Bàn ghế, tủ sách,
tiện nghi sinh hoạt trong phòng làm việc của chủ tịch xã Minh Hải bị đập nát, máy điều hoà
nhiệt độ, bình tắm nóng lạnh, bóng điện... ở nhà riêng Trần Bao bị phá hư hỏng nặng. Nhà riêng
của Trần Chung bị hư hại một số tài sản như bàn ghế, giường tủ, mất một chiếc quạt MD. Gia
đình Trần Thiệu mất một đôi lợn, bếp bị phá hỏng, đống rơm, chuồng lợn bị đốt cháy. Nhà
riêng của Trần Bao bị hư hại nghiêm trọng, một xe máy DREAM bị đốt, bàn thờ tổ tiên bị dỡ,
mất một bát hương thờ cúng liệt sĩ.
Sau khi trình bày xong phần kết luận, lý lịch các bị can, kiểm sát viên Hà Duy Độ ngừng đọc, xin
phép được uống nước. Anh đặt bản cáo trạng dài 51 trang vi tính xuống bàn, nâng ly nước
khoáng Tiền Hải chiêu một ngụm, vị mặn đậm đà cùng với nồng độ ga mát lạnh thấm vào cổ
họng, lan toả trong cơ thể. Chưa bao giờ Độ phải trình bày cáo trạng dài như lần này, khó khăn
như lần này. Anh đọc, nhưng anh có cảm nghĩ không tin đó là lời mình. Anh biết tiếng nói của
anh đang rót vào tai, vào tâm bao nhiêu người. Mỗi lời có thể như làn gió mát làm hả hê người
này, lại có thể như mũi gai nhọn làm đau nhức người kia. Nghề của anh là thế. Thái độ của Độ
phải thẳng và lạnh băng. Song, Độ biết bên trong cái lạnh và thẳng đó, còn phải có một con tim,
mà con tim của Độ phải là con tim của một người có tình cảm sâu nặng với những người nông
dân chân lấm, tay bùn. Bởi vậy, bây giờ là phần khó nhọc nhất của Độ. Đó là việc anh phải phân
tích tính chất phạm tội của từng bị cáo. Anh đang đọc bản cáo trạng mà có cảm giác như đang
đọc lời vu khống. Kinh nghiệm nghề nghiệp của Độ cho biết, đó là điều anh phải theo sát phiên
toà để làm rõ cảm giác mơ hồ của mình Hà Duy Độ đọc tiếp:
- Đây là vụ án có nhiều bị can, phạm nhiều tội và phạm nhiều lần. Song đối với từng lần gây án,
vai trò, vị trí của từng bị can khác nhau, tuỳ tính chất và mức độ phạm tội. Trong vụ án này
Nguyễn Văn Định là người chủ mưu xúi giục, dụ dỗ, tổ chức các bị can khác phạm tội. Trong
quá trình phạm tội Nguyễn Văn Định là người vạch kế hoạch, tổ chức các cuộc gây rối, trực tiếp
chỉ huy. Do đó Nguyễn Văn Định phải là người chịu trách nhiệm chính. Tiếp theo là Trần Hải.
Mặc dù Hải là em ruột người bị hại Trần Bao, Hải đã bị Nguyễn Văn Định mua chuộc, lôi kéo
cùng Định bàn bạc và thi hành âm mưu của Định, và cũng là người viết đơn vu khống, ép buộc,
dụ dỗ người khác ký vào, cùng Định chỉ huy các cuộc gây rối, gây hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy
Hải là người chịu trách nhiệm thứ hai sau Nguyễn Văn Định.
Trình bày hết mười một bị can, Độ ngừng lại, nhìn xuống hội trường. Hầu hết các bị can đều cúi
mặt, trừ Bùi Xuân Đức và Lê Xuân Hạ. Các bị can Hoàng Thị Mai, Đỗ Thị Hoè, Nguyễn Đình Hà,
Phạm Thị Luyến, Giang Văn Ngọ, Phạm Thị Na đều là những người nông dân làng Bùi bị
Nguyễn Văn Định, Trần Hải, Bùi Xuân Đức và Lê Xuân Hạ xúi giục, lôi kéo viết đơn vu khống
cán bộ, vận động nhân dân nhiều lần lên xã, lên huyện và lên tỉnh để phá rối an ninh. Đặc biệt
trong vụ ngày 17 tháng 6 năm 1997, chỉ vì bị xúi giục, kích động mà Hoàng Thị Mai đã đập bàn
thờ, lấy đi một bát nhang thờ cúng của gia đình Trần Bao. Tội nghiệp cho một cô gái xinh đẹp,
còn quá trẻ mà đã goá bụa, bây giờ lại phải vào tù nữa thì đời cô ta sẽ ra sao? Nguyễn Đình Hà,
Giang Văn Ngọ thì sử dụng hung khí và cung cấp hung khí cho bọn côn đồ gây rối, đánh người
gây hậu quả nghiêm trọng. Độ đã nhiều lần tiếp xúc với họ trong trại tạm giam, Hà và Ngọ đã
thừa nhận hành động sai trái của mình, nhưng một mực kêu oan. Oan như thế nào thì không
chứng minh được. Đó cũng là những chi tiết mà Độ cần phải xem xét thật kỹ để cùng Hội đồng
xét xử làm rõ tại phiên toà.
Khi ngồi nghiên cứu để thảo bản cáo trạng, nhất là khi phân tích tính chất phạm tội của các bị
can, Độ gần như mất ăn, mất ngủ, còn nhớ đến đoạn: "Đỗ Thị Hoè, Phạm Thị Na đốt đuốc soi
đường cho bọn côn đồ hành động, trực tiếp tham gia cướp tài sản công dân. Phạm Thị Luyến
đập phá tường bao nhà chủ tịch Trần Bao, hô hào cổ vũ bọn gây rối phá hoại", thì Độ phải cân
nhắc mãi, anh viết rồi lại dập đi, lại viết, lại xoá. Rõ ràng kết quả điều tra của cơ quan công an
và lời khai của ba bị can này đều thống nhất. Song Hà Duy Độ vẫn băn khoăn, anh cảm thấy có
điều gì không ổn. Độ đã tìm mọi biện pháp để làm rõ cái điều "không ổn" trên, nhưng chưa ra
kết quả. Lời khai của người bị hại, nhân chứng, những chứng cứ thu thập được và kết luận của
cơ quan điều tra đã khép kín, bịt chặt đến không còn một kẽ hở. Hà Duy Độ chỉ còn việc tổng
hợp, phân tích, chứng minh tội phạm và căn cứ vào bộ luật hình sự mà truy tố.
Phân tích xong tính chất phạm tội của mười một bị can, Độ tạm ngưng. Hàng trăm con mắt của
những người dự phiên toà đều xói vào anh. Những bộ mặt hả hê, những con mắt dửng dưng, và
cả những con mắt tức giận, nghi ngờ... Anh biết quyết định truy tố các bị can anh sắp trình bày
sau đây, tuy chưa phải là quyết định cuối cùng, nhưng nó như một quả cân đặt vào cán cân
công lý. Tuy nhiên anh còn được phép nhấc quả cân đó ra một lần nữa để đặt lại. Song, nhấc ra
đặt lại đâu phải dễ dàng. Bao nhiêu cuộc đời, số phận, bao nhiêu gia đình đoàn tụ hay tan nát
một phần phụ thuộc vào cái sự nhấc ra, đặt vào này. Điều đó đã quan trọng, điều còn quan
trọng hơn đó là lòng tin của các bị can, của hàng trăm, hàng nghìn công dân vào pháp luật, vào
chế độ. Anh đang luận tội các bị can mà tưởng như chính mình ra pháp trường, cương quyết
nhưng cũng hơi run. Độ hít một hơi, lấy lại phong độ, giọng lạnh như nước đá:
- Từ những chứng cứ trên nay quyết định truy tố ra trước toà án nhân dân tỉnh các bị can sau:
Một, Nguyễn Văn Định về tội chủ mưu kích động nhiều người phá rối an ninh, chống người thi
hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan Nhà nước theo khoản 01 điều 83; tội vu khống
theo khoản 02 điều 117 Bộ luật hình sự nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hà Duy Độ ngừng đọc, liếc nhanh bị cáo Nguyễn Văn Định. Anh ta ngồi đó, mớ tóc đốm bạc
bồng lên. Đôi mắt màu nâu bóng nước. Cái mỏm tay cụt đặt thõng trên đùi, đầu cùi chỏ co rúm
lại, nhăn nheo từng khứa như quả roi héo, chỗ còn lại da mòng mọng loang lổ, lúc đỏ tấy, lúc tái
ngắt, hình như máu ở chỗ đó đang chuyển động mạnh. Cánh tay cụt ấy ngọ nguậy như chiếc dùi
trống muốn đánh vào mặt trống mà không được phép đánh. Không hiểu Định nghĩ gì với lời
buộc tội của Viện kiểm sát mà Độ vừa đọc. Định, Hải và tất cả các bị cáo có tội thì phải chịu tội
trước pháp luật, còn nếu như vô tội thì Hội đồng xét xử sẽ phải làm rõ.
Mỗi lần đọc truy tố xong một bị can, Độ lại ngẩng lên nhìn qua họ một lượt. Mỗi người một vẻ
phản ứng khác nhau. Nhưng tất cả, dường như đều là một trái bom lớn đang nóng dần, nóng
dần theo mỗi lời buộc tội của anh, chỉ chờ bùng nổ. Hà Duy Độ cố gắng đọc nốt bị can cuối cùng
và cũng là người bị truy tố tội danh nhẹ nhất, một người đàn bà bằng đúng tuổi mẹ anh - bà cụ
Phạm Thị Na, năm nay đã 68 tuổi, cụ nhờ người viết hộ đơn khiếu nại về việc đội cưỡng chế
thuế nông nghiệp lấy đi của cụ chiếc quạt điện. Trong vụ gây rối ngày 17 tháng 6, cụ bị truy tố
về tội tham gia gây rối an ninh và chiếm đoạt tài sản công dân vì người ta bắt gặp cụ cầm bó
đuốc có mặt trong vụ đó, và đã lấy chiếc quạt MD vốn là của cụ. Tội nghiệp bà cụ già nua, đang
ngồi gục đầu trên thành ghế, đôi vai gầy nhô lên trông như con chão chuộc. Hà Duy Độ cố gắng
lên giọng đọc to câu cuối cùng:
- Kèm theo cáo trạng là 234 trang hồ sơ vụ án và 41 bút lục.
Hà Duy Độ vừa đặt bản cáo trạng, rút khăn mùi soa lau mồ hôi, thì cả hội trường ào lên sôi
động như đàn ong vỡ tổ:
- Phản đối! Phản đối!
- Chúng tôi phản đối!
ở ngoài sân tiếng hô hét, đập cửa thình thình. Một cụ ông râu tóc tua tủa như rễ tre, ngồi hàng
ghế thứ tư đứng dậy nói lớn:
- Bản cáo trạng vu khống. Nhân dân chúng tôi không đồng ý!
Chủ toạ phiên toà Đinh Tráng vội cầm chiếc micrô nói:
- Xin đồng bào trật tự... Hội đồng xét xử xử công khai... không chỉ căn cứ vào bản cáo trạng. Quá
trình xét xử, nếu như bị cáo vô tội, Viện kiểm sát có quyền rút truy tố, hoặc toà án tuyên bố vô
tội. Đồng bào hãy tin tưởng...
Một buổi sáng kết thúc căng thẳng, mệt mỏi. Định và mười bị can đứng dậy đi trong sự áp giải
của công an về nơi tạm giam. Anh đang đi trên chiếc cầu cheo leo của lòng tin. Nó như chiếc
cầu độc mộc hồi anh mới nhập ngũ. Tiểu đội trưởng bảo: "Dũng cảm lên, tin tưởng vào mình,
nhất định sẽ đi qua". Định hiểu, chiếc cầu nhỏ bé mong manh quá, nó chỉ đặt vừa bàn chân, dễ
ngã lắm. Bao nhiêu năm chiến trận, hàng trăm trận đánh, nhiều trận tưởng thất bại trong tầm
tay. Vậy mà chưa bao giờ anh để mất lòng tin như...
Chương 1: Làng Bùi
Chương 2: Bản cáo trạng
Chương 3: Lời một người làm chứng
Chương 4: Bản cung của một bị cáo
Chương 5: Xét hỏi bị cáo Nguyễn Đình Hà
Chương 6: Bị cáo cao tuổi nhất
Chương 7: Những lá đơn kêu cứu
Chương 8: Kẻ tham nhũng ái tình
Chương 9: Nỗi đau người lính
Chương 10: Chân dung người bị hại
Chương 11: Người bị khai trừ
Chương 12: Kẻ ngoan cố số 1
Chương 13: Kẻ ngoan cố số 2
Chương 14: Kẻ phản bội
Chương 15: Đêm thứ 100
Chương 16: Phiên tòa - ngày thứ bảy
Chương 17: Sự kiện làng Bùi
Chương 18: Tuyên án
Bùi Thanh Minh
BÊN SÔNG TRÀ LÝ
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
CHƯƠNG MỘT: LÀNG BÙI
Định dừng bước ở mỏm đê nơi cửa con sông Trà Lý đổ ra biển Đông, thẫn thờ nhìn ra khơi xa.
Chiều đầu đông, gió bấc hun hút se se lạnh. Nước triều đã rút ra khỏi bờ dồn lại ngoài khơi xa
như con đê màu nâu nhạt, để lại bãi cồn mênh mông vắng lặng. Thưa thớt vài con chim mố
đứng côi cút trên cồn cố kiếm những miếng mồi cuối cùng trong ngày. ở phía mù khơi, trên
sóng nước bập bùng, dưới bầu trời ảm đạm, một cánh chim đơn lẻ, thoi thóp, chập chờn ngược
gió cố bay về hướng Đồ Sơn. Nắng chiều đông ngẩn ngơ hắt vào nền trời làm những vệt mây
chiều như rớm máu. Gần chân bờ, rừng sú vẹt trải một vệt xanh mờ âm u.
Định ngồi xuống vạt cỏ nhàu nhàu ven đê, dõi ánh mắt lang thang theo cánh chim trời một lúc,
rồi mệt mỏi cúi xuống miên man nhìn dòng sông Trà Lý một màu xám nhạt. Cảm giác dưới đáy
nước thăm thẳm, mông lung như chứa một thế giới huyền bí ghê rợn ở trong lòng. Nơi cửa
sông, duy nhất chỉ còn chiếc thuyền máy trơ trọi neo giữa dòng sông hoang vắng. Định còn
nhớ, hồi nhỏ mỗi khi rủ bạn bè ra sông Trà Lý tắm, ông nội thường đe: "Sóng cửa Trà, ma cửa
Hộ đấy con ạ". Vậy mà suốt ngày của cái thời thơ ấu ấy, Định đã bơi lội, lặn ngụp, mò cua, bắt
cá ở cửa sông này, Định chả thấy ngọn sóng nào đáng sợ cả. Ngược lại, dòng Trà Lý gắn bó với
Định như thể Định là đứa con do sông sinh ra. Đến nỗi, sau này lớn lên, mỗi lần đi xa trở về,
Định lại ra cửa sông để tắm mình trong kỷ niệm. Nếu là mùa hè, Định cởi bỏ quần áo như để
trút hết phiền muộn ở trên bờ, rồi lao xuống dòng sông, cưỡi lên đầu sóng và chui vào lòng
nước. Dòng nước mằn mặn mát rượi ve vuốt mơn trớn, nhấm nhứt da thịt Định tạo nên một
khoái cảm vô bờ. Nước nhấc bổng Định lên chơi vơi, rồi lại nhận chìm ôm gọn vào lòng đến
thót bụng, tắc thở. Định như đứa trẻ sà vào lòng mẹ nô đùa làm nũng. Vậy mà hôm nay, khi mà
Định rất cần đến sự an ủi, vuốt ve của nó, thì dòng sông lại như một kẻ bội tình với dòng nước
hững hờ, ghẻ lạnh. Định buồn quá, nỗi buồn ngẩn ngơ, cay đắng. Trước mặt Định là dòng Trà Lý
uốn quanh những xóm làng rồi xoè những nhánh của nó ra biển Đông như chiếc quạt. Sau lưng
Định, dưới chân đê là làng Bùi yêu thương của anh đang giấu mình dưới rừng tre xanh nhạt.
Định sinh ra ở cái làng nhỏ bé này. Dòng Trà Lý đã tắm mát cả cuộc đời anh. Đất làng Bùi đã
nuôi anh lớn lên, bồi đắp tâm hồn anh bằng những huyền thoại lịch sử và bao kỷ niệm ngọt
ngào cũng như cay đắng của nó.
Làng Bùi của Định, xưa còn gọi là tổng Nam Sơn. Sau cải cách ruộng đất (năm 1955) nó được
nhập vào làng bên để thành xã Minh Hải. Giữa làng có ngôi đình để thờ Thành hoàng. Sân đình
còn có cây bàng cổ thụ.
Cây bàng cổ thụ làng Bùi có tuổi thọ 101 năm, thân bàng sù sì, phần gốc căng lên những thớ
như gốc đa, cành bàng giống như cánh tay gân guốc vươn lên xoè bàn tay che chở cho làng.
Đứng mãi cuối huyện, Định nhìn về còn thấy ngọn bàng. Ông nội bảo cây bàng này cũng năm
lần bảy lượt chết đi, sống lại mới có dáng chọc trời, vươn lên như che chở một vùng đất.
Theo lời ông kể lại, thì ngày Tổng khởi nghĩa hồi tháng 8 năm 1945, chi bộ Đảng tổng Nam Sơn
đã treo lá cờ đỏ búa liềm lên ngọn bàng. Cũng tại gốc bàng này, trong ngôi đình thờ Thành
hoàng, chi bộ Đảng đã ra nghị quyết rào làng kháng chiến chống Pháp. Đã có biết bao nhiêu
quả moóc chi ê của giặc Pháp bắn vào làng Bùi, vào ngọn bàng. Có trận, ngọn bàng bị đạn pháo
chẻ nát, cành lá nát tướp, tả tơi. Cũng như dân làng Bùi, chỉ sau trận chống càn ít hôm, cành lá
của nó lại xanh mởn, chồi non lại nhú ra, như những búp đa nhọn hoắt, sự sống lại hồi sinh.
Trên ngọn bàng lại phơi phới lá cờ đỏ có hình búa liềm. Đến cải cách ruộng đất, dân làng Bùi đã
tập trung tại đây đấu tố tên Nghị Lật - một tên địa chủ gian ác khét tiếng. Nó đẽo xương, róc
thịt không trừ một ai, kể cả họ hàng, làng xóm. Lần đầu tiên dân làng Bùi được nói thẳng, nói
thật, nói hết, nói cho hả giận để vạch mặt kẻ hút máu dân. Rồi lại cũng ở gốc bàng này, Định
chứng kiến hàng trăm thanh niên lần lượt đứng lên làm lễ tuyên thệ để lên đường vào Nam
chiến đấu. Những người như Định hôm nay - sau chiến thắng chống Mỹ oanh liệt may mắn trở
về, từ xa nhìn thấy ngọn bàng, trong lòng đã dâng lên niềm tự hào. Còn những người nằm lại
chiến trường, họ cũng trở về đúng dưới gốc bàng, nhưng lại bằng một lễ truy điệu.
Như thế, cây bàng đã chứng kiến biết bao biến cố của làng. Nó sừng sững, hiên ngang như khí
phách của dân làng Bùi trước bao thăng trầm, biến cố của lịch sử, nó thâm trầm khắc khổ, nhẫn
nại như bản tính chịu thương, chịu khó của dân làng Bùi. Nó hút nhựa từ đất làng Bùi, nó nhận
ánh sáng của mặt trời, nó uống nước dòng Trà Lý để toả bóng mát cho ngôi đình thờ Thành
hoàng. Vậy mà bây giờ...
Định lặng lẽ đứng dậy, lòng trĩu nặng một cảm giác tê buốt. Hai ngày nữa, chỉ hai ngày nữa thôi
Định phải trở về trại tạm giam để chuẩn bị ra hầu toà. Hai ngày nữa, Định phải xa dòng Trà Lý,
xa làng Bùi. Ôi, cái làng Bùi khốn khó mà dạn dày gan góc của Định kia - dải đất hình long giáng,
đầu rồng phục bên bờ sông Trà Lý. Rốn rồng chính là đình thờ Thành hoàng. ở đó có hai cái ao
cắt đôi bằng một dải đất hẹp. Dải đất hình tháp bút, hai cái ao hình cái nghiên. Dân làng Bùi
bảo đó là nghiên và bút, biểu trưng cho vùng đất văn hiến. Đuôi rồng phất lên nơi cuối làng,
vuốt lại như hình chiếc kiếm. Tại đây có ngôi đền Bà. Dân làng Bùi coi đây là biểu trưng của
vùng đất thượng võ.
Làng Bùi của Định giành "đầu rồng" để chôn cất tổ tiên mình cho phần âm được ổn, mà phần
đời được thịnh. Giữa nghĩa địa, khuyết vào bằng năm cái nong là một cái chuôm nhỏ mà Định
thấy không bao giờ cạn nước. Hồi còn nhỏ, về mùa khô, cá tôm ở trên ruộng trút xuống, Định
thường rủ anh Hải ra mò lặn bắt cá ở cái chuôm này. Ban ngày trời nắng, Định đi móc cua, nhìn
vào chuôm thấy ánh lên như sắc cầu vồng. Ban đêm, đi đơm đó, thỉnh thoảng nhìn về đó lại
thấy có ánh lân tinh bốc lên như lửa. Tát cạn nước, đào hai thép mai thấy đất có những vân thớ
vàng vàng, tím tím. Ông nội bảo đó chính là hàm rồng, và cũng là địa huyệt có thế năng của
dòng khí mạnh. Cũng chính vì thế mà các dòng họ mang cốt của ông cha mình táng ở hàm rồng.
Họ Trần mang táng tổ mình ở phía tây nam. Họ Nguyễn của Định táng tổ của mình ở bờ phía
đông bắc. Sau này họ Nguyễn có nhiều người làm cán bộ thoát ly mang tiền về xây mộ tổ. Tiền
góp được bao nhiêu, trưởng tộc phải lo thiết kế xây dựng lớn bấy nhiêu. Vì vậy, mộ tổ họ
Nguyễn bấy giờ như ngôi chùa nhỏ. Nhưng nếu tính giá trị ra tiền phải lớn hơn ngôi nhà mái
bằng. Họ Trần, con cháu hầu hết ở quê bức bách quá liền huy động cả họ gánh đất gần một
tháng đắp mộ tổ của mình lớn gần một trăm mét khối đất, quyết không thua kém họ Nguyễn.
Các họ khác cũng đua nhau xây cất mồ mả của mình, giàu thì xây lớn, nghèo thì xây nhỏ, tệ lắm
cũng xây bao một khoảnh. Nghĩa địa làng Bùi có hơn ba trăm ngôi mộ, Định đếm được 264
ngôi đã xây cất tử tế. Làng Bùi bây giờ thành hai làng Bùi. Đứng trên đê nhìn xuống, Định thấy
phần dương như một lùm cây, phần âm rực sáng những gạch, xi măng, rồng chầu, hổ phục...
Lớn thêm một chút nữa, một hôm Định hỏi ông nội: "Ông ơi sao người ta lại bảo là "sóng cửa
Trà, ma cửa Hộ?". Nội nghĩ ngợi một lúc rồi nói: "Cũng chỉ là truyền thuyết để lại... nhưng theo
nội có lẽ nguyên do là thế này...".
Làng Bùi có sáu dòng họ lớn. Họ Trần và họ Nguyễn đến đây lập nghiệp đầu tiên. Thời kỳ chống
quân Tống xâm lược, cụ Đồ họ Nguyễn đứng lên chiêu mộ binh sỹ phò nhà Lý đánh giặc. Trong
một trận giao chiến ở bờ sông Trà Lý, chẳng may thất bại. Một viên quan người họ Trần khai láo
với chủ tướng nhà Lý rằng cụ Đồ làm phản. Viên tướng sai người bắt một con gà trống cắt tiết để
lấy giò làm ứng. Viên quan họ Trần bí mật lấy một sợi tóc quấn ngón chân gà theo ý định và cho
nhúng nước sôi ba lần, nước lạnh ba lần. Khi dâng lên, chủ tướng nhà Lý xếch ngược đôi lông
mày đập tay xuống sập quát:
- Chân giò quặp cổ, quân phản chủ, bay đâu chém đầu!
Cụ Đồ bị dẫn về đình làng chém đầu, xác bỏ trôi sông Trà Lý. Bốn ngày sau, đầu lâu dạt vào cửa
sông, mắt mở trừng trừng, còn xác trôi ra biển Đông. Thành ra mộ tổ họ Nguyễn của Định bây
giờ chỉ có chiếc hộp sọ cụ Đồ.
Cụ Đồ bị xử oan, đêm đêm người ta thấy cụ Đồ ngồi trên chiếc thuyền nan nhỏ, đầu quấn khăn
trắng, mặc bộ đồ trắng cưỡi đầu sóng lượn lờ ở cửa sông. Rồi năm ấy tự dưng sóng ở ngoài biển
Đông dồn về cửa sông Trà lớn chưa từng, có cả sóng bạc đầu lừng lững dựng đứng như con cá
voi. Năm sau lại xuất hiện vòi rồng làm đắm hai chiếc thuyền, có thuyền vòi rồng hút bổng lên
trời rồi ném vào bờ vỡ nát. Đồn rằng cụ Đồ giận dữ. Thuyền bè không chiếc nào dám ra khơi nữa.
Họ Nguyễn và làng Bùi phải tổ chức làm lễ rửa oan cho cụ mới xong. Có lẽ vì vậy mà cùng với:
"ma ở cửa sông Diêm Hộ", là "sóng ở cửa Trà Lý" ra đời?
Họ Trần và họ Nguyễn có mối thù với nhau từ đó. Sau này trong kháng chiến chống thực dân
Pháp người làng Bùi cùng nhau theo Đảng giành chính quyền, rào làng kháng chiến... Thời
chống Mỹ cứu nước, già trẻ, gái trai thi đua "Ba sẵn sàng", "Ba đảm đang", cùng nhau bắn máy
bay Mỹ, cùng nhau vì miền Nam ruột thịt..., thanh niên nam nữ hai họ yêu nhau lấy nhau. Thế là
mối thù xưa của hai dòng họ tự nhiên mất.
Sang thời cơ chế thị trường hai họ tuy không còn thù nhau, nhưng mỗi lần bầu bán các chức vụ
trong xã, lại ngấm ngầm đấu đá nhau ra trò để tranh giành quyền lực. Nếu họ Nguyễn có chức
vụ này, họ Trần phải có chức vụ kia. Hai khoá gần đây họ Trần giành gần hết các chức vụ quan
trọng. Trưởng tộc họ Trần là Trần Bao nắm chức chủ tịch xã, Phó ban tài chính, chủ nhiệm hợp
tác xã nông nghiệp, trưởng ban địa chính đều ở phía họ Trần. Cả xã có chín chi bộ, có đến bốn
"chi bộ họ Trần". Vì vậy Trần Bao thâu tóm mọi quyền hành. Các quyết định của ủy ban Nhân
dân xã Minh Hải thực ra đều là của Trần Bao.
* * *
Một bóng người nhập nhoạng từ trong làng đi ra, mái đầu nhấp nhô dưới bờ mương. Ai thế
nhỉ? Chiều đông đã muộn ai ra cửa sông gió rét làm gì? Lúc này Định chỉ muốn ngồi một mình,
không muốn ai quấy rầy. Nhưng nhận ra cái bóng người ấy mặc bộ đồ màu cỏ úa, Định liền
đứng dậy gọi:
- Linh, Linh ơi!
Linh sải từng bước nhanh nhẹn về phía tiếng gọi, từ dưới chân đê Linh vừa leo vừa ngẩng lên
nói:
- Ông bảo cháu, chỉ ra đây mới gặp được chú.
Linh ngồi xuống bên Định trên thảm cỏ, Định quàng cánh tay còn lại của mình qua vai Linh hỏi:
- Toà án họ hỏi cháu những gì?
- Cháu trình bày tất cả những gì cháu biết, chú ạ. Các chú ấy hỏi rất kỹ vụ hai họ Trần và
Nguyễn xung đột hồi Cố qua đời, và yêu cầu cháu viết ra giấy với tư cách của người làm chứng
- Ngừng một lát, Linh nhìn thẳng vào Định rồi hỏi - Thế, bao giờ chú trở lại trại tạm giam ạ?
Định trượt cánh tay khỏi vai Linh, mắt bỗng tối sầm. Anh buồn bã nhìn về phía nghĩa địa làng
Bùi. Hai ngôi mộ tổ họ Nguyễn và họ Trần sừng sững như hai đối thủ vẫn đang thách thức
nhau. Định cúi xuống như cố xua đi cảm giác nặng nề:
- Họ cho chú về hai ngày giỗ Cố...
Như vậy, có nghĩa là chú Định chỉ còn tự do đêm nay và ngày mai nữa thôi, rồi chú phải ra toà
đối mặt với pháp luật. Vậy mà Linh không thể ở lại cùng chú, cùng mọi người dự phiên toà rất
quan trọng của làng Bùi. Trước khi toà mở, phải trái, trắng đen còn lẫn lộn, liệu kết thúc phiên
toà mọi đúng sai có được định đoạt rõ ràng không? Linh thương chú Định quá, nhưng không
biết phải nói thế nào, đành lặng lẽ lấy thuốc lá rồi cả hai cùng châm hút.
Định quay sang Linh, an ủi:
- Cháu cứ yên tâm về đơn vị. Mọi việc ở nhà sẽ đâu vào đấy thôi. Chỉ có điều...
Cái điều Định lo đến thắt ruột, thắt tim khó nói thành lời lắm. Chỉ còn mười ngày nữa phiên toà
sơ thẩm sẽ mở xét xử vụ án gồm mười một bị cáo người làng Bùi, trong đó có Định, can tội gây
rối an ninh, phá hoại tài sản xã hội chủ nghĩa và của công dân, chống người thi hành công vụ,
đánh người gây thương tích... Nói theo cách nói của bô lão làng Bùi là tình thì ngay, mà lý lại
gian. Biết giải thích thế nào cho được. Pháp luật là pháp luật, cứ thẳng như kẻ chỉ, ai người ta
lại đi moi móc bảy tám đời, tìm con chi chi chọt chọt mà vận dụng, mà xét mà xử. Định lắc đầu
chép miệng:
- Phận chú thôi cũng đành vậy... chú cũng biết cả làng Bùi đang xôn xao bàn bạc, tìm cách giải
quyết phương tiện, tiền bạc để chuẩn bị lên tỉnh dự phiên toà. Cả làng ai cũng quan tâm và
quyết làm cho ra nhẽ... Cứu chú, cứu người thân của họ đã đành, nhưng chú nghĩ cái còn lớn
hơn là phải cứu làng Bùi, cứu cái tình thân ái đoàn kết, cứu tình làng nghĩa xóm, cứu đạo đức
luân lý vốn có của người dân làng Bùi, cháu ạ.
Trời đã gần tối, khói lam chiều từ các lùm tre trong làng lan toả. Ngoài khơi xa, chân trời phủ
một màu xám nhạt. Mặt sông Trà Lý sương đã giăng giăng. Nền trời sạch bong, vắng lặng. Cây
muỗm bên kia sông im lìm đen thẫm như chiếc nấm khổng lồ. Một đôi cò già thong thả từ
trong làng bay ra biển đáp xuống rừng sú vẹt để trú đêm. Dòng sông Trà Lý không tiếng sóng
vỗ bờ. Vậy mà trong lòng Định nỗi buồn lại trào dâng như sóng. Định kéo Linh đứng dậy:
- Tối rồi, về thôi, cháu.
Ngập ngừng được vài bước Linh nói:
- Hay là... chú thuê một luật sư giỏi?
Định không trả lời. Lát sau anh nói:
- Ngẫm lời Cố dạy mà thấm thía: Biết được cái khó là người có chí tự lập không làm phiền ai.
Chịu được cái đắng là người có tâm kiên nhẫn cố làm nên việc... Linh ạ, chú vẫn tin, lẽ phải
trước sau gì cũng được khẳng định.
CHƯƠNG HAI: BẢN CÁO TRẠNG
Phiên toà mở chậm mất chín ngày so với dự kiến, nghĩa là cuối tháng mười, nay đã là đầu
tháng mười một năm 1997, vì một lý do: Bị can Nguyễn Văn Định không nhất trí một số nội
dung trong bản cáo trạng của Viện Kiểm sát. Định là bị can số một, bị can quan trọng mang tội
danh nặng nhất của vụ án. Do đó Viện Kiểm sát phải điều chỉnh một số nội dung, và gặp gỡ bị
can để làm rõ. Chín ngày sau thủ tục mới hoàn tất.
Hội trường xét xử sơ thẩm có hai trăm ghế ngồi đã chật ních. Ngoài sân có đến hàng trăm
người, đàn ông, đàn bà, già trẻ, gái trai đứng tràn cả ra đường. Hội đồng xét xử phải bắc thêm
hai chiếc loa nén trên các cây ngoài cổng để nhân dân theo dõi.
Ngồi dưới hội trường nhìn lên là Quốc huy nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mang
màu đỏ. Trên ghế của Hội đồng xét xử, thẩm phán Đinh Tráng chủ toạ phiên toà trong bộ com
lê màu tím than trang trọng ngồi giữa, hai bên là thẩm phán Nguyễn Đức Hùng và hai hội thẩm
nhân dân Trần Văn Hội, Phạm Chí Nhân. Kiểm sát viên Hà Duy Độ ngồi sau chiếc bàn đặt chếch
bốn nhăm độ với bàn chủ toạ.
Khác với ngoài sân ồn lên vì những lời bàn tán, bên trong hội trường im phắc, tưởng như
không khí ngưng đọng, mọi người ngừng thở.
Sau khi hoàn tất các thủ tục cần thiết của phiên toà, chủ toạ Đinh Tráng nhìn lướt một lần nữa
xuống hội trường. Những mái đầu của các bị cáo gục xuống; khuôn mặt của những người bị hại
vênh vang, một số đang làm ra vẻ đăm chiêu suy nghĩ; hàng trăm ánh mắt đang chăm chú nhìn
lên. Đinh Tráng đang đại diện pháp luật để xử những người phạm tội. Nhưng bên cạnh đó - anh
hiểu, lại có một toà án khác - toà án lương tâm trong mỗi con người đang ngồi đây để xử phúc
thẩm. Phúc thẩm nhân cách, năng lực chính anh và Hội đồng xét xử. Bởi vậy, Đinh Tráng nghĩ, ở
phiên toà phức tạp này, để giữ cho được nhân cách người cầm cán cân công lý, ngoài cái tâm ra
rồi, nó còn đòi hỏi phương pháp đấu tranh khôn khéo, kiên quyết. Giọng Đinh Tráng sang sảng:
- Tiếp theo, xin mời ông kiểm sát viên trình bày bản cáo trạng.
Kiểm sát viên Hà Duy Độ người cao, da trắng, mũi dọc dừa cân đối với vầng trán dô và đôi
lưỡng quyền cao. Khuôn mặt anh toát lên vẻ thông minh. Khi trình bày đến phần chủ yếu của
cáo trạng, anh cố nhấn mạnh từng âm tiết cho giọng đanh và chắc, tạo ấn tượng mạnh cho
người nghe:
- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 14 giờ ngày 9 tháng 5 năm 1997, Nguyễn Văn Định cùng với Bùi
Xuân Đức, Lê Xuân Hạ vận động lôi kéo nhân dân làng Bùi gồm 143 người tập trung gây mất
trật tự ở Uỷ ban nhân dân huyện. Tại đây, Nguyễn Văn Định vu khống chủ tịch Uỷ ban nhân dân
xã Minh Hải là Trần Bao tham ô của công năm trăm triệu đồng, bán trái phép một nghìn bốn
trăm mét vuông đất, vu khống Trần Ngưỡng phó ban tài chính xã tham ô 451 triệu đồng, Trần
Thiệu trưởng ban địa chính xã bán đất trái phép, nhận hối lộ 257 triệu đồng và chiếm đoạt
chín suất đất thổ cư một nghìn sáu trăm mét vuông; Trần Chung chủ nhiệm hợp tác xã nông
nghiệp chủ trương thu quỹ trái phép, chiếm đoạt 250 tấn thóc và một trăm năm bảy triệu
đồng; Đào Xuân Ba cán bộ điện tự ý tăng giá điện, tham ô 142 triệu đồng. Tại đây Định nói xấu,
bôi nhọ cán bộ và chính quyền; xuyên tạc nội dung kết luận của đoàn thanh tra gây nghi ngờ
trong nhân dân đối với chính quyền. Định còn kích động nhân dân viết đơn thư tố cáo cán bộ,
vu khống Trần Bao nhận tiền hối lộ của chị Đỗ Thị Hoè, kích động chị Hoè viết đơn vu khống.
Vu khống Trần Ngưỡng cưỡng dâm Đào Thị Xuân. Định còn xúi dục chị Hoàng Thị Mai viết đơn
vu cáo Trần Bao chiếm đoạt nhà ở, lôi kéo Đức, Hạ, Hà, Ngọ... chống lại quy định của địa
phương...
Lật trang giấy Hà Duy Độ đọc tiếp:
- Vụ thứ hai: Ngày 29 và 30 tháng 5 năm 1997 Trần Hải được Nguyễn Văn Định sai đi vận động
lôi kéo Phạm Thị Luyến, Bùi Xuân Đức, Lê Xuân Hạ, Giang Văn Ngọ, Nguyễn Đình Hà, Phạm Thị
Na tụ tập tại nhà Định. Tại đây Định và Hải trực tiếp hướng dẫn họ làm đơn tố cáo sai sự thật
cán bộ Nhà nước. Hải viết hai lá đơn cho Phạm Thị Na và Giang Văn Ngọ. Định viết ba lá đơn
rồi sai Bùi Xuân Đức, Lê Xuân Hạ đi vận động đe doạ nhân dân ký vào đơn để gây sức ép với
chính quyền. Khi bị phát hiện, Định và hải tẩu tán tài liệu, cố tình quanh co giấu giếm.
- Vụ thứ ba - Hà Duy Độ ngước nhìn rồi đọc, tiếp - 15 giờ ngày 17 tháng 6 năm 1997, thực hiện
âm mưu lật đổ chính quyền của Nguyễn Văn Định và Trần Hải, Bùi Xuân Đức cùng Lê Xuân Hạ,
trực tiếp chỉ huy Giang Văn Ngọ, Nguyễn Đình Hà, Đào Thị Xuân, Phạm Thị Luyến và một số
phần tử xấu đã vận động lôi kéo, kích động hàng trăm người dân, mang hung khí như cuốc,
xẻng, gậy gộc, dao rựa... tụ tập lên Uỷ ban nhân dân xã Minh Hải bao vây, bức ép một số cán bộ
xã. Tại đây Định đã lớn tiếng vu khống, nhục mạ cán bộ Nhà nước, ép Chủ tịch xã từ chức. Khi
lực lượng an ninh đến bảo vệ, Định đã chỉ huy Bùi Xuân Đức, Lê Xuân Hạ và một số côn đồ đánh
trả lực lượng an ninh, đánh trọng thương chủ tịch xã và phó ban tài chính xã, phá phách trụ sở
Uỷ ban nhân dân xã gây thiệt hại nghiêm trọng. Đến 18 giờ cùng ngày, Định tổ chức cho Bùi
Xuân Đức, Lê Xuân Hạ và một số kẻ xấu phá phách nhà riêng của Trần Bao, Trần Ngưỡng, Trần
Thiệu và Trần Chung. Khi Trần Ngưỡng trốn ở trong nhà, Định đã chỉ huy Đào Thị Xuân dùng
dao xông vào đè Trần Ngưỡng ra cắt hạ bộ. Lợi dụng rối loạn Phạm Thị Na vào nhà chủ nhiệm
hợp tác xã Trần Chung cướp một chiếc quạt MD, Nguyễn Đình Hà cướp của gia đình Trần
Chung một đôi lợn 30kg, Hoàng Thị Mai đập phá bàn thờ liệt sĩ, cướp đi một bát nhang của gia
đình Trần Bao.
Hà Duy Độ trình bày khá cụ thể vụ thứ ba, vụ được coi là "sự kiện làng Bùi" đã làm xôn xao dư
luận cả tỉnh bấy lâu nay. Và cũng chính vì "sự kiện làng Bùi" này mới có phiên toà hôm nay.
Kết thúc phần trình bày ba vụ xảy ra ở xã Minh Hải, Hà Duy Độ ngừng đọc, nhìn xuống hàng
ghế người bị hại. Đó là Trần Bao, Trần Ngưỡng, Trần Thiệu, Trần Chung, Đào Xuân Ba và Đoàn
Kim Phượng. Độ bỗng chột dạ, trừ Đào Xuân Ba ra, còn lại những khuôn mặt người bị hại đều
có vẻ hả hê; mặt Đoàn Kim Phượng còn vênh như vỏ ngao. Đây là điều mà trong đời làm kiểm
sát viên luận tội, Hà Duy Độ ít khi gặp. Trở lại Trần Bao, nguyên là chủ tịch xã Minh Hải. Bao
ngồi hàng ghế đầu, khi bắt gặp ánh mắt của Hà Duy Độ, Bao hơi cúi xuống, miệng vội mím lại,
dường như Bao chợt nhận ra cách biểu cảm hớ hênh của mình. Hà Duy Độ hiểu, trong biên bản
của Hội đồng giám định Y khoa của bệnh viện viết: "Trần Bao bị vật cứng đánh làm gãy xương
quai xanh và xương sườn số 5, 6, 7; vật nhọn đánh vào đầu làm rách da đỉnh đầu dài bảy cen ti
mét, sâu một phảy năm cen ti mét làm chấn thương sọ não..". Như vậy có nghĩa là lúc này thần
kinh của Trần Bao không được chuẩn lắm, những biểu hiện ra bên ngoài có thể chưa phản ánh
đúng tâm trạng. Nhưng kìa, Trần Ngưỡng mới lạ chứ. Trong biên bản của Hội đồng giám định Y
khoa cũng ghi: "Trần Ngưỡng bị vật nhọn đâm vào cánh tay trái, xuyên qua phần mềm rộng ba
cen ti mét chảy nhiều máu. Đầu, cổ, sườn, đùi bị nhiều vết bầm tím. Dương vật bị cắt cụt một
phần ba..." Đáng lẽ trước đám đông, Ngưỡng phải xấu hổ bởi vết thương "đặc biệt" của mình, ít
ra cũng phải biết thân biết phận. Đằng này Ngưỡng ngồi ật ra ghế, ngẩng bộ mặt thâm sì cười
cười nói nói như người thắng trận.
Dẫu sao thì Độ cũng thấy tội cho những người bị hại. Hầu hết tài sản của họ đều bị thiệt hại
nghiêm trọng trong vụ ngày 17 tháng 6. Bút lục 157, công văn số 29CA của công an tỉnh báo
cáo về việc hư hại, mất mát tài sản mà Hà Duy Độ đã nghiên cứu khá tỷ mỷ: Bàn ghế, tủ sách,
tiện nghi sinh hoạt trong phòng làm việc của chủ tịch xã Minh Hải bị đập nát, máy điều hoà
nhiệt độ, bình tắm nóng lạnh, bóng điện... ở nhà riêng Trần Bao bị phá hư hỏng nặng. Nhà riêng
của Trần Chung bị hư hại một số tài sản như bàn ghế, giường tủ, mất một chiếc quạt MD. Gia
đình Trần Thiệu mất một đôi lợn, bếp bị phá hỏng, đống rơm, chuồng lợn bị đốt cháy. Nhà
riêng của Trần Bao bị hư hại nghiêm trọng, một xe máy DREAM bị đốt, bàn thờ tổ tiên bị dỡ,
mất một bát hương thờ cúng liệt sĩ.
Sau khi trình bày xong phần kết luận, lý lịch các bị can, kiểm sát viên Hà Duy Độ ngừng đọc, xin
phép được uống nước. Anh đặt bản cáo trạng dài 51 trang vi tính xuống bàn, nâng ly nước
khoáng Tiền Hải chiêu một ngụm, vị mặn đậm đà cùng với nồng độ ga mát lạnh thấm vào cổ
họng, lan toả trong cơ thể. Chưa bao giờ Độ phải trình bày cáo trạng dài như lần này, khó khăn
như lần này. Anh đọc, nhưng anh có cảm nghĩ không tin đó là lời mình. Anh biết tiếng nói của
anh đang rót vào tai, vào tâm bao nhiêu người. Mỗi lời có thể như làn gió mát làm hả hê người
này, lại có thể như mũi gai nhọn làm đau nhức người kia. Nghề của anh là thế. Thái độ của Độ
phải thẳng và lạnh băng. Song, Độ biết bên trong cái lạnh và thẳng đó, còn phải có một con tim,
mà con tim của Độ phải là con tim của một người có tình cảm sâu nặng với những người nông
dân chân lấm, tay bùn. Bởi vậy, bây giờ là phần khó nhọc nhất của Độ. Đó là việc anh phải phân
tích tính chất phạm tội của từng bị cáo. Anh đang đọc bản cáo trạng mà có cảm giác như đang
đọc lời vu khống. Kinh nghiệm nghề nghiệp của Độ cho biết, đó là điều anh phải theo sát phiên
toà để làm rõ cảm giác mơ hồ của mình Hà Duy Độ đọc tiếp:
- Đây là vụ án có nhiều bị can, phạm nhiều tội và phạm nhiều lần. Song đối với từng lần gây án,
vai trò, vị trí của từng bị can khác nhau, tuỳ tính chất và mức độ phạm tội. Trong vụ án này
Nguyễn Văn Định là người chủ mưu xúi giục, dụ dỗ, tổ chức các bị can khác phạm tội. Trong
quá trình phạm tội Nguyễn Văn Định là người vạch kế hoạch, tổ chức các cuộc gây rối, trực tiếp
chỉ huy. Do đó Nguyễn Văn Định phải là người chịu trách nhiệm chính. Tiếp theo là Trần Hải.
Mặc dù Hải là em ruột người bị hại Trần Bao, Hải đã bị Nguyễn Văn Định mua chuộc, lôi kéo
cùng Định bàn bạc và thi hành âm mưu của Định, và cũng là người viết đơn vu khống, ép buộc,
dụ dỗ người khác ký vào, cùng Định chỉ huy các cuộc gây rối, gây hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy
Hải là người chịu trách nhiệm thứ hai sau Nguyễn Văn Định.
Trình bày hết mười một bị can, Độ ngừng lại, nhìn xuống hội trường. Hầu hết các bị can đều cúi
mặt, trừ Bùi Xuân Đức và Lê Xuân Hạ. Các bị can Hoàng Thị Mai, Đỗ Thị Hoè, Nguyễn Đình Hà,
Phạm Thị Luyến, Giang Văn Ngọ, Phạm Thị Na đều là những người nông dân làng Bùi bị
Nguyễn Văn Định, Trần Hải, Bùi Xuân Đức và Lê Xuân Hạ xúi giục, lôi kéo viết đơn vu khống
cán bộ, vận động nhân dân nhiều lần lên xã, lên huyện và lên tỉnh để phá rối an ninh. Đặc biệt
trong vụ ngày 17 tháng 6 năm 1997, chỉ vì bị xúi giục, kích động mà Hoàng Thị Mai đã đập bàn
thờ, lấy đi một bát nhang thờ cúng của gia đình Trần Bao. Tội nghiệp cho một cô gái xinh đẹp,
còn quá trẻ mà đã goá bụa, bây giờ lại phải vào tù nữa thì đời cô ta sẽ ra sao? Nguyễn Đình Hà,
Giang Văn Ngọ thì sử dụng hung khí và cung cấp hung khí cho bọn côn đồ gây rối, đánh người
gây hậu quả nghiêm trọng. Độ đã nhiều lần tiếp xúc với họ trong trại tạm giam, Hà và Ngọ đã
thừa nhận hành động sai trái của mình, nhưng một mực kêu oan. Oan như thế nào thì không
chứng minh được. Đó cũng là những chi tiết mà Độ cần phải xem xét thật kỹ để cùng Hội đồng
xét xử làm rõ tại phiên toà.
Khi ngồi nghiên cứu để thảo bản cáo trạng, nhất là khi phân tích tính chất phạm tội của các bị
can, Độ gần như mất ăn, mất ngủ, còn nhớ đến đoạn: "Đỗ Thị Hoè, Phạm Thị Na đốt đuốc soi
đường cho bọn côn đồ hành động, trực tiếp tham gia cướp tài sản công dân. Phạm Thị Luyến
đập phá tường bao nhà chủ tịch Trần Bao, hô hào cổ vũ bọn gây rối phá hoại", thì Độ phải cân
nhắc mãi, anh viết rồi lại dập đi, lại viết, lại xoá. Rõ ràng kết quả điều tra của cơ quan công an
và lời khai của ba bị can này đều thống nhất. Song Hà Duy Độ vẫn băn khoăn, anh cảm thấy có
điều gì không ổn. Độ đã tìm mọi biện pháp để làm rõ cái điều "không ổn" trên, nhưng chưa ra
kết quả. Lời khai của người bị hại, nhân chứng, những chứng cứ thu thập được và kết luận của
cơ quan điều tra đã khép kín, bịt chặt đến không còn một kẽ hở. Hà Duy Độ chỉ còn việc tổng
hợp, phân tích, chứng minh tội phạm và căn cứ vào bộ luật hình sự mà truy tố.
Phân tích xong tính chất phạm tội của mười một bị can, Độ tạm ngưng. Hàng trăm con mắt của
những người dự phiên toà đều xói vào anh. Những bộ mặt hả hê, những con mắt dửng dưng, và
cả những con mắt tức giận, nghi ngờ... Anh biết quyết định truy tố các bị can anh sắp trình bày
sau đây, tuy chưa phải là quyết định cuối cùng, nhưng nó như một quả cân đặt vào cán cân
công lý. Tuy nhiên anh còn được phép nhấc quả cân đó ra một lần nữa để đặt lại. Song, nhấc ra
đặt lại đâu phải dễ dàng. Bao nhiêu cuộc đời, số phận, bao nhiêu gia đình đoàn tụ hay tan nát
một phần phụ thuộc vào cái sự nhấc ra, đặt vào này. Điều đó đã quan trọng, điều còn quan
trọng hơn đó là lòng tin của các bị can, của hàng trăm, hàng nghìn công dân vào pháp luật, vào
chế độ. Anh đang luận tội các bị can mà tưởng như chính mình ra pháp trường, cương quyết
nhưng cũng hơi run. Độ hít một hơi, lấy lại phong độ, giọng lạnh như nước đá:
- Từ những chứng cứ trên nay quyết định truy tố ra trước toà án nhân dân tỉnh các bị can sau:
Một, Nguyễn Văn Định về tội chủ mưu kích động nhiều người phá rối an ninh, chống người thi
hành công vụ, cản trở hoạt động của cơ quan Nhà nước theo khoản 01 điều 83; tội vu khống
theo khoản 02 điều 117 Bộ luật hình sự nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Hà Duy Độ ngừng đọc, liếc nhanh bị cáo Nguyễn Văn Định. Anh ta ngồi đó, mớ tóc đốm bạc
bồng lên. Đôi mắt màu nâu bóng nước. Cái mỏm tay cụt đặt thõng trên đùi, đầu cùi chỏ co rúm
lại, nhăn nheo từng khứa như quả roi héo, chỗ còn lại da mòng mọng loang lổ, lúc đỏ tấy, lúc tái
ngắt, hình như máu ở chỗ đó đang chuyển động mạnh. Cánh tay cụt ấy ngọ nguậy như chiếc dùi
trống muốn đánh vào mặt trống mà không được phép đánh. Không hiểu Định nghĩ gì với lời
buộc tội của Viện kiểm sát mà Độ vừa đọc. Định, Hải và tất cả các bị cáo có tội thì phải chịu tội
trước pháp luật, còn nếu như vô tội thì Hội đồng xét xử sẽ phải làm rõ.
Mỗi lần đọc truy tố xong một bị can, Độ lại ngẩng lên nhìn qua họ một lượt. Mỗi người một vẻ
phản ứng khác nhau. Nhưng tất cả, dường như đều là một trái bom lớn đang nóng dần, nóng
dần theo mỗi lời buộc tội của anh, chỉ chờ bùng nổ. Hà Duy Độ cố gắng đọc nốt bị can cuối cùng
và cũng là người bị truy tố tội danh nhẹ nhất, một người đàn bà bằng đúng tuổi mẹ anh - bà cụ
Phạm Thị Na, năm nay đã 68 tuổi, cụ nhờ người viết hộ đơn khiếu nại về việc đội cưỡng chế
thuế nông nghiệp lấy đi của cụ chiếc quạt điện. Trong vụ gây rối ngày 17 tháng 6, cụ bị truy tố
về tội tham gia gây rối an ninh và chiếm đoạt tài sản công dân vì người ta bắt gặp cụ cầm bó
đuốc có mặt trong vụ đó, và đã lấy chiếc quạt MD vốn là của cụ. Tội nghiệp bà cụ già nua, đang
ngồi gục đầu trên thành ghế, đôi vai gầy nhô lên trông như con chão chuộc. Hà Duy Độ cố gắng
lên giọng đọc to câu cuối cùng:
- Kèm theo cáo trạng là 234 trang hồ sơ vụ án và 41 bút lục.
Hà Duy Độ vừa đặt bản cáo trạng, rút khăn mùi soa lau mồ hôi, thì cả hội trường ào lên sôi
động như đàn ong vỡ tổ:
- Phản đối! Phản đối!
- Chúng tôi phản đối!
ở ngoài sân tiếng hô hét, đập cửa thình thình. Một cụ ông râu tóc tua tủa như rễ tre, ngồi hàng
ghế thứ tư đứng dậy nói lớn:
- Bản cáo trạng vu khống. Nhân dân chúng tôi không đồng ý!
Chủ toạ phiên toà Đinh Tráng vội cầm chiếc micrô nói:
- Xin đồng bào trật tự... Hội đồng xét xử xử công khai... không chỉ căn cứ vào bản cáo trạng. Quá
trình xét xử, nếu như bị cáo vô tội, Viện kiểm sát có quyền rút truy tố, hoặc toà án tuyên bố vô
tội. Đồng bào hãy tin tưởng...
Một buổi sáng kết thúc căng thẳng, mệt mỏi. Định và mười bị can đứng dậy đi trong sự áp giải
của công an về nơi tạm giam. Anh đang đi trên chiếc cầu cheo leo của lòng tin. Nó như chiếc
cầu độc mộc hồi anh mới nhập ngũ. Tiểu đội trưởng bảo: "Dũng cảm lên, tin tưởng vào mình,
nhất định sẽ đi qua". Định hiểu, chiếc cầu nhỏ bé mong manh quá, nó chỉ đặt vừa bàn chân, dễ
ngã lắm. Bao nhiêu năm chiến trận, hàng trăm trận đánh, nhiều trận tưởng thất bại trong tầm
tay. Vậy mà chưa bao giờ anh để mất lòng tin như...
 





